Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Về Tuy Phước ăn bánh xèo tôm
(Vnexpress) - Miếng bánh tráng mỏng gói bên trong là nhân tôm vừa mới chiên, thêm một chút rau mầm, vài sợi xoài chua đem chấm vào bát nước mắm tỏi ớt đậm vị, làm nên món ăn dân dã ngon đến bất ngờ của miền đất võ Bình Định.
Thú vị ngay từ cái tên, bánh xèo tôm nhảy từ lâu đã trở thành thức quà riêng có của quê hương Bình Định, đặc biệt là khu ven biển thành phố Quy Nhơn. Những người sành ăn thường rủ nhau mỗi cuối tuần tìm về tận nơi khởi nguồn ở thôn Mỹ Cang, huyện Tuy Phước (cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km) để thưởng thức trọn vẹn nhất hương vị của món ăn này.
Điều hấp dẫn và đặc biệt nhất đối với những người lần đầu tiên thưởng thức bánh xèo tôm nhảy là nhân bánh chỉ độc một mình tôm. Mỗi cái bánh vàng ươm ra lò có chừng 7 đến 8 con tôm tròn mẩy, chín đỏ au nổi lên trên mặt bánh trông đầy hấp dẫn và lôi cuốn. Có lẽ chính những con tôm đất tươi rói được bắt ở đầm Thị Nại hay sông Gò Bồi vào mỗi buổi sáng sớm dùng để làm bánh ấy khiến cho người ta liên tưởng đến món bánh với tên gọi nghe vui tai như vậy. Loại tôm này nhỏ, nhưng chắc và thơm thịt, khi chín sẽ đỏ au, ăn vào thấy ngọt bùi đến lạ.
Gạo làm bánh được người làm kỳ công lựa chọn rất cẩn thận. Đó là thứ gạo thơm ở cánh đồng khu Đông, sau khi ngâm qua đêm cùng chút muối cho bớt chua sẽ được xay cùng bột nghệ và một chút nước cốt dừa. Nếu xay thủ công bằng cối đá bột sẽ càng dai, mềm mịn và ngon hơn.
Để chiếc bánh được thơm ngon, giòn đều, người ta thường chiên trên bếp củi, dùng miếng mỡ chài xoa đều một lớp mỏng lên mặt chảo, khi lớp mỡ nóng già mới đổ bột bánh vào, nhanh tay cho tôm và rắc vài mầm giá đỗ, hành lá xắt khúc rải lên trên cho thêm phần hấp dẫn. Chỉ chừng 3 phút sau, bánh đã tỏa mùi hương thơm lựng đầy mời gọi. Đến khi mặt dưới của chiếc bánh vàng giòn, viền bánh co lại và giá đỗ tái đi là có thể đem ra dùng nóng.
Người dân Tuy Phước thường ăn kèm rau mầm với bánh xèo tôm nhảy cho bớt ngán. Loại rau xanh mươn mướt ấy ăn hơi the cay nhưng rất mát và bổ, cùng với xoài chua thái sợi và vài thứ rau sống khác. Khi ăn, tất cả được cuộn trong miếng bánh tráng chấm mắm tỏi ớt nữa mới đúng điệu. Người thích vị đậm hơn còn ăn kèm với vài tép tỏi tươi đến từ vùng Lý Sơn, để hương vị càng thêm nồng đượm.
Bánh xèo tôm nhảy rau mầm rất dễ ăn, chiều lòng được cả những vị khó tính nhất bởi cái chất dân dã quyện hòa và hương vị thanh mát, thơm ngon không dễ gì quên được.
Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Read More
Thú vị ngay từ cái tên, bánh xèo tôm nhảy từ lâu đã trở thành thức quà riêng có của quê hương Bình Định, đặc biệt là khu ven biển thành phố Quy Nhơn. Những người sành ăn thường rủ nhau mỗi cuối tuần tìm về tận nơi khởi nguồn ở thôn Mỹ Cang, huyện Tuy Phước (cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km) để thưởng thức trọn vẹn nhất hương vị của món ăn này.
Điều hấp dẫn và đặc biệt nhất đối với những người lần đầu tiên thưởng thức bánh xèo tôm nhảy là nhân bánh chỉ độc một mình tôm. Mỗi cái bánh vàng ươm ra lò có chừng 7 đến 8 con tôm tròn mẩy, chín đỏ au nổi lên trên mặt bánh trông đầy hấp dẫn và lôi cuốn. Có lẽ chính những con tôm đất tươi rói được bắt ở đầm Thị Nại hay sông Gò Bồi vào mỗi buổi sáng sớm dùng để làm bánh ấy khiến cho người ta liên tưởng đến món bánh với tên gọi nghe vui tai như vậy. Loại tôm này nhỏ, nhưng chắc và thơm thịt, khi chín sẽ đỏ au, ăn vào thấy ngọt bùi đến lạ.
Gạo làm bánh được người làm kỳ công lựa chọn rất cẩn thận. Đó là thứ gạo thơm ở cánh đồng khu Đông, sau khi ngâm qua đêm cùng chút muối cho bớt chua sẽ được xay cùng bột nghệ và một chút nước cốt dừa. Nếu xay thủ công bằng cối đá bột sẽ càng dai, mềm mịn và ngon hơn.Để chiếc bánh được thơm ngon, giòn đều, người ta thường chiên trên bếp củi, dùng miếng mỡ chài xoa đều một lớp mỏng lên mặt chảo, khi lớp mỡ nóng già mới đổ bột bánh vào, nhanh tay cho tôm và rắc vài mầm giá đỗ, hành lá xắt khúc rải lên trên cho thêm phần hấp dẫn. Chỉ chừng 3 phút sau, bánh đã tỏa mùi hương thơm lựng đầy mời gọi. Đến khi mặt dưới của chiếc bánh vàng giòn, viền bánh co lại và giá đỗ tái đi là có thể đem ra dùng nóng.
Người dân Tuy Phước thường ăn kèm rau mầm với bánh xèo tôm nhảy cho bớt ngán. Loại rau xanh mươn mướt ấy ăn hơi the cay nhưng rất mát và bổ, cùng với xoài chua thái sợi và vài thứ rau sống khác. Khi ăn, tất cả được cuộn trong miếng bánh tráng chấm mắm tỏi ớt nữa mới đúng điệu. Người thích vị đậm hơn còn ăn kèm với vài tép tỏi tươi đến từ vùng Lý Sơn, để hương vị càng thêm nồng đượm.
Bánh xèo tôm nhảy rau mầm rất dễ ăn, chiều lòng được cả những vị khó tính nhất bởi cái chất dân dã quyện hòa và hương vị thanh mát, thơm ngon không dễ gì quên được.
Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch, GO!
"Ăn Cửa Hội, lội Cửa Lò"…
(BNA) - Cửa Hội là một phần cộng hưởng đầy thú vị cho du khách khi về với Thị xã Cửa Lò. Đó là ở Cửa Hội bây giờ đã có sự chủ đạo về một nét ẩm thực có phần “lắng lại” để ấn tượng thêm cho cái sôi động, quyến rũ của một Cửa Lò “đệ nhất bãi tắm” tự nhiên của nước Việt hiện nay…
Nói gì thì nói, biển Nam, biển Bắc dễ ở đâu có như Cửa Lò cong cong một vành bãi tắm có hai cửa sông Cấm và Lam giang điều hòa nên một tiểu vùng nước biển vừa cát sạch, nước trong, vừa tha thiết thủy dưỡng để cư dân ở đây chắt lọc, tinh túy lên những thức ẩm thực riêng có. Về với Cửa Lò ngày này, thấy đã hài hòa nhu cầu muôn vẻ của du khách trong những ngày lưu trú tại đây ở cái sự “lội” (tắm) và sự “ăn” (ẩm thực) một phần nhờ Thị xã biển đã có chủ trương sáng suốt tôn lên vẻ hoang sơ một phía Cửa Hội nhằm đưa lại chút thư giãn dân dã cần thiết.
Ẩm thực và dịch vụ tắm biển vùng trung tâm Cửa Lò đã làm người ta thỏa thích, hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên gợi lên mỹ cảm từ một vành đai khuôn viên, quảng trường biển và muôn món hải sản cầu kỳ đầy dụng ý. Thì, phía Cửa Hội, nơi bãi tắm cửa sông hào phóng sóng bạc mỗi lúc triều dâng là các thức hải sản mà cách chế biến dường như còn nguyên sự mộc mạc, ân cần của người làng chài đãi khách quý của nhà mình vậy!
Cá thu nướng, nước mắm Cửa Hội đã tạo cái hương vị ẩm thực đầy thuyết phục cho khách sành ăn thích trải nghiệm mà không kể mùa. Nhưng nếu muốn trải nghiệm chút riêng với bãi tắm phía Cửa Hội ngày này, sao không thử thưởng thức món nộm sứa và gỏi hàu? Nộm sứa ở bãi tắm nào cũng thường là thức “khai vị” cho du khách đưa cay trước khi nhiệt tình khám phá các thức hải, đặc sản chính như cua, tôm, ghẹ… của Cửa Lò nói chung.
Nhưng bàn tay của người dân làng biển Nghi Hải, Nghi Hương một phía Cửa Lò đưa trộn món nộm sứa lại tạo vị riêng đặm đà phải biết. Con sứa tươi ngon được thái to bản hơn nhằm lưu lại nguyên vị của biển nhiều hơn. Ngoài các gia vị thông thường thì người chế biến còn cho vào đĩa nộm sứa một thìa nhỏ nước mắm “nhỉ” Cửa Hội, làm dậy lên hương khác lạ tưởng như gió biển hay dư vị sóng nước đang còn sót lại trong khứu giác, vị giác của du khách nay được nâng lên nhờ vị lạc rang giã nhỏ, các thứ rau thơm húng, quế, lá chanh, ớt… được trồng ngay chính ở đất này.
Là món khai vị đấy, nhưng với cách bày biện dân dã đầy đặn, “sợi” sứa trong suốt vì đẫm nước chanh vắt nhằm đẩy mạnh lên cái vị chua giải nhiệt; khiến du khách không thể nhón nhén mà cứ phải gắp nặng đũa cho gọn vào miệng, chưa kịp cảm nhận cái ngọt, mát, thơm của sứa, thì vị chua thanh của chanh vườn và cay cay của ớt đồng đã khiến cho mọi sự háu ăn của người vừa dầm mình dưới sóng biển phải “tuột” theo ý muốn ngấu nghiến món ăn đưa lại trọn vẹn cảm giác thưởng thức một món hải sản thơm, mát, bổ.
Nhưng cảm khoái thực sự cho cánh “mày râu” là khi thưởng thức món gỏi hàu Cửa Hội. Con hàu vùm vụm bằng bàn tay người lớn úp được tách ra, giữ nguyên ruột vào một bên vỏ, đặt lên đĩa. Đó là cảm giác vừa dè dặt, vừa háo hức khi nhà hàng hướng dẫn thưởng thức món ăn từ loài nhuyễn thể tươi sống lồ lộ trước mắt. Ấy là khi đã chuẩn bị cho mỗi thực khách một bát nhỏ nước chanh tươi vắt và thêm chén xì dầu dằm mù tạt, nhà hàng khẽ gảy ruột hàu lên, gắp nguyên cả con thế thả vào bát nước chanh tươi vắt, trong lúc chờ cho ruột hàu ngấm vị chanh, nhà hàng lấy giấy ăn gói một viên đá lạnh lại, rồi gợi chuyện bình phẩm về món gỏi hàu, chờ một vài phút, lại gắp hàu đã ướp chua “thăn” lại, đưa ra dầm vào chén mù tạt.
Ái chà, hãy tự buông đũa gắp và thả gọn vào miệng nhé. Đừng ngại ngần khi vị mù tạt xộc lên, đã có đá lạnh gói giấy ăn, cứ chườm vào cánh mũi. Hít hà thực sự, mạnh dạn thưởng thức miếng gỏi ruột hàu, sẽ có cảm giác như mình vừa “nuốt” cả biển khơi rười rượi sóng gió vào vậy. Mỗi thực khách chỉ cần ăn hai con hàu như thế, là đã hào hứng cho bữa “nhậu” đoàn viên trên bãi biển đầy khí thế…
Nhẩn nha vài món ngon Cửa Hội ấy để minh giải cho câu truyền khẩu “Ăn Cửa Hội, lội Cửa Lò”. Và dù là câu cửa miệng của khách sành ăn hay của dân gian địa phương thì cũng vậy, những món ăn ngon ở Cửa Hội ấy đã đã chinh phục du khách rồi.
Theo Anh Vũ (Báo Nghệ An)
Du lịch, GO!
Read More
Nói gì thì nói, biển Nam, biển Bắc dễ ở đâu có như Cửa Lò cong cong một vành bãi tắm có hai cửa sông Cấm và Lam giang điều hòa nên một tiểu vùng nước biển vừa cát sạch, nước trong, vừa tha thiết thủy dưỡng để cư dân ở đây chắt lọc, tinh túy lên những thức ẩm thực riêng có. Về với Cửa Lò ngày này, thấy đã hài hòa nhu cầu muôn vẻ của du khách trong những ngày lưu trú tại đây ở cái sự “lội” (tắm) và sự “ăn” (ẩm thực) một phần nhờ Thị xã biển đã có chủ trương sáng suốt tôn lên vẻ hoang sơ một phía Cửa Hội nhằm đưa lại chút thư giãn dân dã cần thiết.
Ẩm thực và dịch vụ tắm biển vùng trung tâm Cửa Lò đã làm người ta thỏa thích, hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên gợi lên mỹ cảm từ một vành đai khuôn viên, quảng trường biển và muôn món hải sản cầu kỳ đầy dụng ý. Thì, phía Cửa Hội, nơi bãi tắm cửa sông hào phóng sóng bạc mỗi lúc triều dâng là các thức hải sản mà cách chế biến dường như còn nguyên sự mộc mạc, ân cần của người làng chài đãi khách quý của nhà mình vậy!
Cá thu nướng, nước mắm Cửa Hội đã tạo cái hương vị ẩm thực đầy thuyết phục cho khách sành ăn thích trải nghiệm mà không kể mùa. Nhưng nếu muốn trải nghiệm chút riêng với bãi tắm phía Cửa Hội ngày này, sao không thử thưởng thức món nộm sứa và gỏi hàu? Nộm sứa ở bãi tắm nào cũng thường là thức “khai vị” cho du khách đưa cay trước khi nhiệt tình khám phá các thức hải, đặc sản chính như cua, tôm, ghẹ… của Cửa Lò nói chung.
Nhưng bàn tay của người dân làng biển Nghi Hải, Nghi Hương một phía Cửa Lò đưa trộn món nộm sứa lại tạo vị riêng đặm đà phải biết. Con sứa tươi ngon được thái to bản hơn nhằm lưu lại nguyên vị của biển nhiều hơn. Ngoài các gia vị thông thường thì người chế biến còn cho vào đĩa nộm sứa một thìa nhỏ nước mắm “nhỉ” Cửa Hội, làm dậy lên hương khác lạ tưởng như gió biển hay dư vị sóng nước đang còn sót lại trong khứu giác, vị giác của du khách nay được nâng lên nhờ vị lạc rang giã nhỏ, các thứ rau thơm húng, quế, lá chanh, ớt… được trồng ngay chính ở đất này.
Là món khai vị đấy, nhưng với cách bày biện dân dã đầy đặn, “sợi” sứa trong suốt vì đẫm nước chanh vắt nhằm đẩy mạnh lên cái vị chua giải nhiệt; khiến du khách không thể nhón nhén mà cứ phải gắp nặng đũa cho gọn vào miệng, chưa kịp cảm nhận cái ngọt, mát, thơm của sứa, thì vị chua thanh của chanh vườn và cay cay của ớt đồng đã khiến cho mọi sự háu ăn của người vừa dầm mình dưới sóng biển phải “tuột” theo ý muốn ngấu nghiến món ăn đưa lại trọn vẹn cảm giác thưởng thức một món hải sản thơm, mát, bổ.
Nhưng cảm khoái thực sự cho cánh “mày râu” là khi thưởng thức món gỏi hàu Cửa Hội. Con hàu vùm vụm bằng bàn tay người lớn úp được tách ra, giữ nguyên ruột vào một bên vỏ, đặt lên đĩa. Đó là cảm giác vừa dè dặt, vừa háo hức khi nhà hàng hướng dẫn thưởng thức món ăn từ loài nhuyễn thể tươi sống lồ lộ trước mắt. Ấy là khi đã chuẩn bị cho mỗi thực khách một bát nhỏ nước chanh tươi vắt và thêm chén xì dầu dằm mù tạt, nhà hàng khẽ gảy ruột hàu lên, gắp nguyên cả con thế thả vào bát nước chanh tươi vắt, trong lúc chờ cho ruột hàu ngấm vị chanh, nhà hàng lấy giấy ăn gói một viên đá lạnh lại, rồi gợi chuyện bình phẩm về món gỏi hàu, chờ một vài phút, lại gắp hàu đã ướp chua “thăn” lại, đưa ra dầm vào chén mù tạt.
Ái chà, hãy tự buông đũa gắp và thả gọn vào miệng nhé. Đừng ngại ngần khi vị mù tạt xộc lên, đã có đá lạnh gói giấy ăn, cứ chườm vào cánh mũi. Hít hà thực sự, mạnh dạn thưởng thức miếng gỏi ruột hàu, sẽ có cảm giác như mình vừa “nuốt” cả biển khơi rười rượi sóng gió vào vậy. Mỗi thực khách chỉ cần ăn hai con hàu như thế, là đã hào hứng cho bữa “nhậu” đoàn viên trên bãi biển đầy khí thế…
Nhẩn nha vài món ngon Cửa Hội ấy để minh giải cho câu truyền khẩu “Ăn Cửa Hội, lội Cửa Lò”. Và dù là câu cửa miệng của khách sành ăn hay của dân gian địa phương thì cũng vậy, những món ăn ngon ở Cửa Hội ấy đã đã chinh phục du khách rồi.
Theo Anh Vũ (Báo Nghệ An)
Du lịch, GO!
Về Cồn Tè ăn cá thuốc bắc
(TNO) - Sau khi cây cầu Tam Giang (thường gọi là cầu Ca Cút) nối hai bờ phá Tam Giang (xã Hương Phong và Hải Dương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) được đưa vào sử dụng vào cuối năm 2010, đã đánh thức tiềm năng du lịch của khu vực đầm phá Tam Giang.
Từ trung tâm TP Huế đi theo quốc lộ 49 về hướng Thuận An, đến cầu Diên Trường (xã Phú Tân, huyện Phú Vang) rẽ trái, đi thêm chừng 5 km nữa là đến Cồn Tè. Cồn Tè nằm cuối xã Hương Phong, nhìn ra cửa Thuận An. Tại đây, vào mùa hè, ngồi trên những căn nhà chồ bốn bề lộng gió, thưởng thức các món cá tươi rói mới bắt lên từ phá Tam Giang, mọi cảm giác mệt mỏi chừng như tan biến.
Theo các ngư dân có kinh nghiệm, sở dĩ hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có nhiều cá ngon là do nguồn nước luôn được luân lưu, môi sinh trong sạch. Mặt khác, đây cũng là vùng duy nhất trong phá Tam Giang còn lại loài rong hẹ (còn gọi rong cỏ kiệu) là thức ăn số một và cũng là nơi sinh cư lý tưởng của các loài cá con như cá mú, cá hồng, cá dìa, cá kình và cá nâu.
Báo cáo khoa học về đa dạng sinh học các loài cỏ biển thuộc hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai của Viện Hải dương học Hải Phòng đã được Hội đồng khoa học Sở Khoa học - Công nghệ Thừa Thiên - Huế nghiệm thu năm 2005, cho biết: “Cây rong hẹ còn có tên là rong cỏ kiệu, một loài cỏ biển quý trong thảm thực vật hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Loài rong này khi sinh trưởng sẽ tạo nên một thảm thực vật hệ đáy của vùng đầm phá và trở thành nơi sinh cư lý tưởng cho các loài cá con, trong đó có các loài cá mú, cá hồng, cá nâu...”.
Các loài cá nâu, cá kình, cá dìa... ở phá Tam Giang rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Người Huế thường gọi chúng là những “con cá thuốc bắc”, bởi thịt cá có chức năng như một liều thuốc an thần nhẹ, chống mất ngủ và giảm tress rất hiệu quả. Đặc biệt, các món cá kình, cá nâu, cá dìa hấp mồng tơi ở đây vẫn được lưu truyền là loại thuốc trị chứng mất ngủ hiệu quả.
Các loại cá trên cũng đặc biệt ngon, bổ khi được nấu cháo. Khi những hạt gạo đã bắt đầu nở búp trong nồi, nước cháo sôi sùng sục, những chú cá ong, cá dìa, cá nâu tươi nguyên còn giãy đành đạch, được tẩm qua gia vị thả ào vào soong. Hương thơm bốc lên ngào ngạt. Húp bát cháo cá tươi quyện trong vị cay nồng của hành hương, mồ hôi trong người toát ra, mọi độc tố tồn đọng trong cơ thể dường như được tống khứ. Toàn thân nhẹ hẫng một cảm giác sảng khoái lâng lâng...
Theo Bùi Ngọc Long (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!
Read More
Từ trung tâm TP Huế đi theo quốc lộ 49 về hướng Thuận An, đến cầu Diên Trường (xã Phú Tân, huyện Phú Vang) rẽ trái, đi thêm chừng 5 km nữa là đến Cồn Tè. Cồn Tè nằm cuối xã Hương Phong, nhìn ra cửa Thuận An. Tại đây, vào mùa hè, ngồi trên những căn nhà chồ bốn bề lộng gió, thưởng thức các món cá tươi rói mới bắt lên từ phá Tam Giang, mọi cảm giác mệt mỏi chừng như tan biến.
Theo các ngư dân có kinh nghiệm, sở dĩ hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có nhiều cá ngon là do nguồn nước luôn được luân lưu, môi sinh trong sạch. Mặt khác, đây cũng là vùng duy nhất trong phá Tam Giang còn lại loài rong hẹ (còn gọi rong cỏ kiệu) là thức ăn số một và cũng là nơi sinh cư lý tưởng của các loài cá con như cá mú, cá hồng, cá dìa, cá kình và cá nâu.
Báo cáo khoa học về đa dạng sinh học các loài cỏ biển thuộc hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai của Viện Hải dương học Hải Phòng đã được Hội đồng khoa học Sở Khoa học - Công nghệ Thừa Thiên - Huế nghiệm thu năm 2005, cho biết: “Cây rong hẹ còn có tên là rong cỏ kiệu, một loài cỏ biển quý trong thảm thực vật hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Loài rong này khi sinh trưởng sẽ tạo nên một thảm thực vật hệ đáy của vùng đầm phá và trở thành nơi sinh cư lý tưởng cho các loài cá con, trong đó có các loài cá mú, cá hồng, cá nâu...”.
Các loài cá nâu, cá kình, cá dìa... ở phá Tam Giang rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Người Huế thường gọi chúng là những “con cá thuốc bắc”, bởi thịt cá có chức năng như một liều thuốc an thần nhẹ, chống mất ngủ và giảm tress rất hiệu quả. Đặc biệt, các món cá kình, cá nâu, cá dìa hấp mồng tơi ở đây vẫn được lưu truyền là loại thuốc trị chứng mất ngủ hiệu quả.
Các loại cá trên cũng đặc biệt ngon, bổ khi được nấu cháo. Khi những hạt gạo đã bắt đầu nở búp trong nồi, nước cháo sôi sùng sục, những chú cá ong, cá dìa, cá nâu tươi nguyên còn giãy đành đạch, được tẩm qua gia vị thả ào vào soong. Hương thơm bốc lên ngào ngạt. Húp bát cháo cá tươi quyện trong vị cay nồng của hành hương, mồ hôi trong người toát ra, mọi độc tố tồn đọng trong cơ thể dường như được tống khứ. Toàn thân nhẹ hẫng một cảm giác sảng khoái lâng lâng...
Theo Bùi Ngọc Long (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!
Về Phong Điền ăn bánh hỏi Út Dzách
(TTO) - Trong ngày Hội bánh dân gian Nam bộ lần 3-2014 tại TP Cần Thơ, nhiều người đã tò mò nếm thử món ăn dân dã có cái tên là lạ "bánh hỏi mặt võng Út Dzách" để rồi tìm đến tận Phong Điền để khám phá thêm một nghề truyền thống.
Nằm cách TP Cần Thơ chừng 15km, vào Phong Điền đi qua phà Vàm Xáng rồi tới bến đò Mương Ngang, quẹo phải chừng 30m là bạn đã đến lò bánh hỏi mặt võng Út Dzách.
Ông Trần Thiện Cảnh (47 tuổi, con thứ tư của gia đình, trước là giáo viên, sau xin nghỉ việc), cho biết bánh hỏi mặt võng của gia đình ông là nghề truyền thống lâu đời, đã có cách nay hơn 50 năm.
Bánh hỏi mặt võng khác hẳn với bánh hỏi khác do có vị ngọt, mặn từ bí quyết quậy bột, nêm gia vị và độ trong, dai, không dùng chất phụ gia. Bột gạo làm bánh cũng từ loại gạo Sa Đéc loại đặc biệt. Bánh có hoa văn mặt võng, tinh tế do sự khéo tay của người làm. Xem hình mặt võng có thể đánh giá tay nghề của các nghệ nhân đạt đẳng cấp cao thấp khác nhau.
Bà Châu Kim Thuận (còn gọi là bà Tư, mẹ ông Cảnh) kể khi xưa người phụ nữ trước khi về nhà chồng phải biết thêu thùa, may vá, làm bánh trái... Làm bánh lúc bấy giờ với mục đích phục vụ trong gia đình và giúp đỡ hàng xóm khi có giỗ quảy, tiệc tùng là chính chứ không để bán.
Hòa bình lập lại, khi cưới con dâu đầu tiên, theo đề nghị của dâu, hai mẹ con mới có ý định làm bánh hỏi gia công để kiếm chút đỉnh tiền lời.
Để hoàn thành miếng bánh hỏi mặt võng phải qua nhiều công đoạn công phu. Bột gạo quậy với nước cho vào nồi đặt lên bếp lửa liu riu, dùng vá khuấy bột cho đặc lại để lấy trùng rồi đem ra cối xả nhiều lần cho mịn, xong để nguội. Kế đến, cắt lá chuối khoảng hai tấc vuông rửa sạch, để ráo.
Cho bột vào khuôn hình trụ, phía trên có một cây chày được kết dính với một thanh tre dài để ép bánh. Người bánh bắt để trên tay tấm lá chuối đã rọc sẵn kích cỡ, hứng dưới đáy khuôn khi bột ép xuống thì dùng tay di chuyển tấm lá chuối cho bột bánh đan kết thành hình mặt võng một cách đều đặn, đẹp mắt rồi đem vào xửng hấp độ khoảng 5 phút là bánh chín.
Giở xửng lấy bánh để nguội, gỡ lá chuối ra và xếp cứ 4 miếng bánh 1 xấp. Khi ăn, chỉ cần xếp bánh lên đĩa, tùy theo yêu cầu trang trí chất vòng, cắt làm 3 cuốn lại với rau thơm, cho thịt nướng kim tiền hay heo quay vào, cùng mỡ hành phi rưới lên bánh hỏi... Lúc này chỉ cần thêm chén nước mắm ớt chua ngọt hoặc chén mắm nêm tùy thích.
Mấy năm gần đây, được sự động viên của chính quyền địa phương, gia đình ông Cảnh bỏ vốn đầu tư điểm du lịch sinh thái, làng nghề. Tuy mới khai trương đầu tháng 12-2013, nhưng dịp Tết Giáp Ngọ đã đón khoảng 300 khách, các ngày nghỉ lễ, cuối tuần có 100 khách tham quan.
Ngoài 2 món chủ lực là bánh hỏi mặt võng thịt kim tiền, bánh hỏi mặt võng thịt heo quay, cháo tương yêu, nơi đây còn có các món ăn dân dã: ốc, lươn um, lẩu mắm đồng quê... và các loại bánh truyền thống khác như bánh lá mít, bánh đùm, bánh xếp, bánh bò, bánh da lợn, bánh ít, bánh tét, bánh tằm se tay…
Đến đây, được thong dong dưới tán cây râm mát, thưởng thức món ăn truyền thống và cây trái vườn nhà, du khách nào cũng thích thú và hẹn ngày trở lại.
Theo Thanh Tâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Read More
Nằm cách TP Cần Thơ chừng 15km, vào Phong Điền đi qua phà Vàm Xáng rồi tới bến đò Mương Ngang, quẹo phải chừng 30m là bạn đã đến lò bánh hỏi mặt võng Út Dzách.
Ông Trần Thiện Cảnh (47 tuổi, con thứ tư của gia đình, trước là giáo viên, sau xin nghỉ việc), cho biết bánh hỏi mặt võng của gia đình ông là nghề truyền thống lâu đời, đã có cách nay hơn 50 năm.
Bánh hỏi mặt võng khác hẳn với bánh hỏi khác do có vị ngọt, mặn từ bí quyết quậy bột, nêm gia vị và độ trong, dai, không dùng chất phụ gia. Bột gạo làm bánh cũng từ loại gạo Sa Đéc loại đặc biệt. Bánh có hoa văn mặt võng, tinh tế do sự khéo tay của người làm. Xem hình mặt võng có thể đánh giá tay nghề của các nghệ nhân đạt đẳng cấp cao thấp khác nhau.
Bà Châu Kim Thuận (còn gọi là bà Tư, mẹ ông Cảnh) kể khi xưa người phụ nữ trước khi về nhà chồng phải biết thêu thùa, may vá, làm bánh trái... Làm bánh lúc bấy giờ với mục đích phục vụ trong gia đình và giúp đỡ hàng xóm khi có giỗ quảy, tiệc tùng là chính chứ không để bán.
Hòa bình lập lại, khi cưới con dâu đầu tiên, theo đề nghị của dâu, hai mẹ con mới có ý định làm bánh hỏi gia công để kiếm chút đỉnh tiền lời.
Để hoàn thành miếng bánh hỏi mặt võng phải qua nhiều công đoạn công phu. Bột gạo quậy với nước cho vào nồi đặt lên bếp lửa liu riu, dùng vá khuấy bột cho đặc lại để lấy trùng rồi đem ra cối xả nhiều lần cho mịn, xong để nguội. Kế đến, cắt lá chuối khoảng hai tấc vuông rửa sạch, để ráo.
Cho bột vào khuôn hình trụ, phía trên có một cây chày được kết dính với một thanh tre dài để ép bánh. Người bánh bắt để trên tay tấm lá chuối đã rọc sẵn kích cỡ, hứng dưới đáy khuôn khi bột ép xuống thì dùng tay di chuyển tấm lá chuối cho bột bánh đan kết thành hình mặt võng một cách đều đặn, đẹp mắt rồi đem vào xửng hấp độ khoảng 5 phút là bánh chín.Giở xửng lấy bánh để nguội, gỡ lá chuối ra và xếp cứ 4 miếng bánh 1 xấp. Khi ăn, chỉ cần xếp bánh lên đĩa, tùy theo yêu cầu trang trí chất vòng, cắt làm 3 cuốn lại với rau thơm, cho thịt nướng kim tiền hay heo quay vào, cùng mỡ hành phi rưới lên bánh hỏi... Lúc này chỉ cần thêm chén nước mắm ớt chua ngọt hoặc chén mắm nêm tùy thích.
Mấy năm gần đây, được sự động viên của chính quyền địa phương, gia đình ông Cảnh bỏ vốn đầu tư điểm du lịch sinh thái, làng nghề. Tuy mới khai trương đầu tháng 12-2013, nhưng dịp Tết Giáp Ngọ đã đón khoảng 300 khách, các ngày nghỉ lễ, cuối tuần có 100 khách tham quan.
Ngoài 2 món chủ lực là bánh hỏi mặt võng thịt kim tiền, bánh hỏi mặt võng thịt heo quay, cháo tương yêu, nơi đây còn có các món ăn dân dã: ốc, lươn um, lẩu mắm đồng quê... và các loại bánh truyền thống khác như bánh lá mít, bánh đùm, bánh xếp, bánh bò, bánh da lợn, bánh ít, bánh tét, bánh tằm se tay…
Đến đây, được thong dong dưới tán cây râm mát, thưởng thức món ăn truyền thống và cây trái vườn nhà, du khách nào cũng thích thú và hẹn ngày trở lại.
Theo Thanh Tâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
4 đặc sản 'bốc mùi' ở VN
(Dân trí) - Nhiều người cho rằng những món ăn bốc mùi hôi thối này là thực phẩm ôi thiu, không thể ăn được nhưng thực chất chúng lại là một số món đặc trưng của mỗi vùng miền đất nước.
Thịt thối của đồng bào dân tộc Thái mạn Mường La
Nghe thôi, nhiều người cứ nghĩ chắc đây chỉ “chiêu” quảng bá văn hóa ẩm thực của người Mường La. Nhưng nếu đã mục sở thị thì thịt thối đúng là thối thật!
Người dân ở đây bảo; nó giống sầu riêng, ngửi thối chứ ăn thì tuyệt ngon. Và đúng là như vậy.
Món ăn này được chế biến bằng cách: lợn hoặc bò sau khi được xẻ thịt sẽ chọn những phần ngon nhất đem phơi nắng. Qua một vài nắng, miếng thịt tự nhiên khô lại, thịt tiếp tục được tẩm với nước của một loại rau thơm cho ngấm vào bên trong sau đó đem bỏ vào chum và rắc lên đó một ít muối.
Thịt được ủ kín, vì không được ướp với nhiều muối nên thịt sẽ phân huỷ, phần thịt ngon bị chín bởi ánh nắng sẽ không tan mà đóng cục. Khi ủ thịt được khoảng 10 ngày, người ta mở ra và cho vào đó một ít thảo dược. Nếu có khách quý, món thịt thối sẽ được lấy ra nấu chín cùng rêu suối, cơm nguội và ăn kèm với lá sung.
Nước mắm
Có thể nói Việt Nam từ thời xa xưa đã là xứ sở của các loại mắm. Từ mắm nêm, mắm phệt, mắm ruốc, mắm tôm đến các loại mắm lóc, mắm sặt, khô mắm, khô mặn v.v... cho đến loại mắm đặc biệt là mắm nước thường được gọi là nước mắm.
Nước mắm có thể làm từ cá sống, cá khô; hoặc từ cả các loại sò hến, tôm cua hoặc trái cây như quả điều khi làm nước mắm chay. Một số loại nước mắm được làm từ cá nguyên con, một số khác thì chỉ được từ tiết hay nội tạng cá. Một số loại nước mắm chỉ có cá và muối, một số khác có thể có thêm dược thảo và gia vị. Nước mắm lên men ngắn ngày có mùi tanh đặc trưng của cá. Quá trình lên men dài ngày sẽ giảm được mùi tanh và tạo ra hương vị mùi quả hạch và béo hơn.
Sầu riêng
Có rất nhiều người không ăn được, chỉ cần đưa đến miệng là muốn ói luôn, cả khách ta lẫn khách tây. Họ nói nó bị bốc mùi, cũng có người tập ăn dần thì được.
Đối với những người “ghiền” sầu riêng, phần cùi của nó có vị béo giống như bơ và thơm ngọt. Họ cho biết, vị ngon ngọt đặc trưng đó không có loại trái cây nào có thể sánh bằng và cũng chính vì thế, sầu riêng đã được xếp vào danh sách “vua của các loại trái cây”.
Loại trái cây vua này còn chứa nhiều chất thiamin – một loại vitamin B, có tác dụng giúp ăn ngon miệng và sản xuất axít hydrochloric trong dạ dày, tạo điều kiện cho hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả hơn.
Sầu riêng còn chứa vitamin B6. Tình trạng cơ thể thiếu hụt vitamin B6 có thể dẫn đến chứng phiền muộn. Các cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng, những bệnh nhân bị phiền muộn thường có mức vitamin B6 thấp. Vitamin B6 đóng vai trò như là một loại dưỡng chất thiết yếu trong việc sản xuất serotonin – một loại hóa chất truyền dẫn thần kinh, tác động đến tâm trạng con người.
Nậm Pịa
Nguyên liệu chính là tiết đông, đuôi, dạ dày, cuống tim, ruột non của bò hoặc dê được nấu sền sệt.
Nậm pịa là một món ăn đặc trưng của người dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Trong món ăn này “pịa” là phân non nằm giữa đoạn dạ dày và ruột già của trâu, bò, dê, được lấy ra rồi nêm gia vị, cho thêm nội tạng các loài vật ăn cỏ bao gồm dạ dày, tiết, lòng, tim gan, phèo phổi thập cẩm phế lù đem ninh nhừ. Nó thường có màu sắc rất đặc trưng của… phân.
Món nậm pịa được bưng ra, màu bên ngoài đặc một sắc nâu sền sệt không bắt mắt, hương vị cũng khá khó ngửi. Ăn thử miếng đầu tiên thấy vị đắng. Ăn miếng thứ hai, thứ ba thấy thơm mùi mắc khén (một loại hồ tiêu trên núi), vị ngọt của thịt, xương và vị đắng của pịa. Ai ăn được nậm pịa sẽ rất thích vì vị đắng dịu nơi cuống lưỡi. Hay nhất là bạn có yếu bụng đến đâu cũng không hề gì khi thử món ăn. Nậm pịa ăn kèm với thịt luộc, rau bạc hà, rau chuối và chút rượu nồng là nhất vị.
Theo Minh Phan (báo Dân Trí)
Du lịch, GO!
Read More
Thịt thối của đồng bào dân tộc Thái mạn Mường La
Nghe thôi, nhiều người cứ nghĩ chắc đây chỉ “chiêu” quảng bá văn hóa ẩm thực của người Mường La. Nhưng nếu đã mục sở thị thì thịt thối đúng là thối thật!
Người dân ở đây bảo; nó giống sầu riêng, ngửi thối chứ ăn thì tuyệt ngon. Và đúng là như vậy.
Món ăn này được chế biến bằng cách: lợn hoặc bò sau khi được xẻ thịt sẽ chọn những phần ngon nhất đem phơi nắng. Qua một vài nắng, miếng thịt tự nhiên khô lại, thịt tiếp tục được tẩm với nước của một loại rau thơm cho ngấm vào bên trong sau đó đem bỏ vào chum và rắc lên đó một ít muối.
Thịt được ủ kín, vì không được ướp với nhiều muối nên thịt sẽ phân huỷ, phần thịt ngon bị chín bởi ánh nắng sẽ không tan mà đóng cục. Khi ủ thịt được khoảng 10 ngày, người ta mở ra và cho vào đó một ít thảo dược. Nếu có khách quý, món thịt thối sẽ được lấy ra nấu chín cùng rêu suối, cơm nguội và ăn kèm với lá sung.
Nước mắm
Có thể nói Việt Nam từ thời xa xưa đã là xứ sở của các loại mắm. Từ mắm nêm, mắm phệt, mắm ruốc, mắm tôm đến các loại mắm lóc, mắm sặt, khô mắm, khô mặn v.v... cho đến loại mắm đặc biệt là mắm nước thường được gọi là nước mắm.
Nước mắm có thể làm từ cá sống, cá khô; hoặc từ cả các loại sò hến, tôm cua hoặc trái cây như quả điều khi làm nước mắm chay. Một số loại nước mắm được làm từ cá nguyên con, một số khác thì chỉ được từ tiết hay nội tạng cá. Một số loại nước mắm chỉ có cá và muối, một số khác có thể có thêm dược thảo và gia vị. Nước mắm lên men ngắn ngày có mùi tanh đặc trưng của cá. Quá trình lên men dài ngày sẽ giảm được mùi tanh và tạo ra hương vị mùi quả hạch và béo hơn.
Sầu riêng
Có rất nhiều người không ăn được, chỉ cần đưa đến miệng là muốn ói luôn, cả khách ta lẫn khách tây. Họ nói nó bị bốc mùi, cũng có người tập ăn dần thì được.
Đối với những người “ghiền” sầu riêng, phần cùi của nó có vị béo giống như bơ và thơm ngọt. Họ cho biết, vị ngon ngọt đặc trưng đó không có loại trái cây nào có thể sánh bằng và cũng chính vì thế, sầu riêng đã được xếp vào danh sách “vua của các loại trái cây”.
Loại trái cây vua này còn chứa nhiều chất thiamin – một loại vitamin B, có tác dụng giúp ăn ngon miệng và sản xuất axít hydrochloric trong dạ dày, tạo điều kiện cho hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả hơn.
Sầu riêng còn chứa vitamin B6. Tình trạng cơ thể thiếu hụt vitamin B6 có thể dẫn đến chứng phiền muộn. Các cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng, những bệnh nhân bị phiền muộn thường có mức vitamin B6 thấp. Vitamin B6 đóng vai trò như là một loại dưỡng chất thiết yếu trong việc sản xuất serotonin – một loại hóa chất truyền dẫn thần kinh, tác động đến tâm trạng con người.
Nậm Pịa
Nguyên liệu chính là tiết đông, đuôi, dạ dày, cuống tim, ruột non của bò hoặc dê được nấu sền sệt.
Nậm pịa là một món ăn đặc trưng của người dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Trong món ăn này “pịa” là phân non nằm giữa đoạn dạ dày và ruột già của trâu, bò, dê, được lấy ra rồi nêm gia vị, cho thêm nội tạng các loài vật ăn cỏ bao gồm dạ dày, tiết, lòng, tim gan, phèo phổi thập cẩm phế lù đem ninh nhừ. Nó thường có màu sắc rất đặc trưng của… phân.
Món nậm pịa được bưng ra, màu bên ngoài đặc một sắc nâu sền sệt không bắt mắt, hương vị cũng khá khó ngửi. Ăn thử miếng đầu tiên thấy vị đắng. Ăn miếng thứ hai, thứ ba thấy thơm mùi mắc khén (một loại hồ tiêu trên núi), vị ngọt của thịt, xương và vị đắng của pịa. Ai ăn được nậm pịa sẽ rất thích vì vị đắng dịu nơi cuống lưỡi. Hay nhất là bạn có yếu bụng đến đâu cũng không hề gì khi thử món ăn. Nậm pịa ăn kèm với thịt luộc, rau bạc hà, rau chuối và chút rượu nồng là nhất vị.
Theo Minh Phan (báo Dân Trí)
Du lịch, GO!
Đến Sa Pa thưởng thức đặc sản cá hồi
(DTO) - Sapa không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp bồng bềnh của những lớp sương mù, phong cảnh thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc với những thửa ruộng bậc thang kỳ vỹ,… mà còn nổi danh với đặc sản cá hồi vân mà trước đây chỉ giới “quý tộc” mới có cơ hội thưởng thức.
Nếu như trước đây khi đến với Sapa du khách chỉ được thưởng thức các loại thịt thú rừng, ăn cá suối, rau rừng và thưởng thức các loại hoa quả vùng ôn đới như táo, lê, mận, đào… hay tham quan các điểm du lịch quen thuộc như Thác Bạc, núi Hàm Rồng, bản Cát Cát, bản Tả Phìn, đỉnh Phanxipang,… thì nay khi đến với Sapa du khách sẽ được thưởng thức đặc sản cá hồi vân nổi tiếng trời Tây và tham quan trại nuôi cá hồi lớn nhất miền Bắc.
< Những chú cá hồi xuất xứ từ trời tây tung tăng bơi lội dưới chân "Nóc nhà Đông Dương".
Dưới chân Thác Bạc, ở độ cao 1.800m so với mực nước biển, những chú cá hồi vân có xuất xứ từ Châu Âu, Châu Mỹ được chăm sóc rất “chu đáo” trong những cái ao nhân tạo. Đặc điểm sinh tồn của cá hồi vân là sống trong môi trường “nước động”, nhiệt độ thấp dưới 15 độ nên toàn bộ nước trong các ao đều được dẫn bởi 1.000m đường ống từ Thác Bạc về trại cá.
Dù được nuôi ở nhiều nơi nhưng đến nay trại nuôi cá hồi Sapa vẫn là đơn vị thành công nhất. Nhiều du khách trong và ngoài nước đã có dịp khám phá, tìm hiểu về quy trình nuôi cá hồi, được tận mắt ngắm nhìn đàn cá tung tăng bơi lội ngay dưới chân Thác Bạc. Sự có mặt của những chú cá hồi vân giữa núi rừng Tây Bắc khiến cho sản phẩm du lịch Sapa trở nên hấp dẫn hơn, đa dạng hơn. Trại nuôi cá ngay dưới chân Thác Bạc là địa điểm được nhiều du khách ghé thăm nhất, bởi nơi đây gần điểm du lịch và nằm ngay dưới chân Fansipan nên rất tiện dừng chân.
Nhiều du khách đến với Sapa không dấu được sự ngỡ ngàng và thích thú trước những chú cá hồi xuất xứ trời tây lại tung tăng bơi lội ở vùng núi, trên độ cao 1.800m.
Hiện nay, trong các nhà hàng, khách sạn nổi tiếng ở Sapa cá hồi vân đã trở thành món ẩm thực hấp dẫn với nhiều du khách trong và ngoài nước.
Với vị ngon đậm đà, thịt có màu hồng đẹp, giá trị dinh dưỡng cao, cá hồi đang là món ăn sang trọng của du khách khi đến với Sapa.
Với khí hậu quanh năm mát mẻ và một mùa đông lạnh thậm chí có cả tuyết bao phủ, cá hồi Sapa có thớ săn, không có mỡ, chất lượng không thua kém cá hồi nhập khẩu, rất thích hợp để chế biến thành nhiều món khác nhau như: gỏi, lẩu, cháo, cá hồi nướng, trứng cá hấp, cá hun khói, salad rau xanh ăn kèm cá hồi tẩm sốt cam và tiêu xanh, cá hồi nhồi dưa chuột…
Cùng với các giá trị độc đáo về thiên nhiên và văn hóa, trong thời tiết se lạnh của Sapa cùng nhâm nhi chém rượu Bắc Hà hay San Lùng và thưởng thức đặc sản cá hồi nướng hay lẩu cá hồi,… là điều thú vị với những ai yêu thích bức tranh thiên nhiên đậm chất Tây Bắc này!
Song An (Dân Trí)
Du lịch, GO!
Read More
Nếu như trước đây khi đến với Sapa du khách chỉ được thưởng thức các loại thịt thú rừng, ăn cá suối, rau rừng và thưởng thức các loại hoa quả vùng ôn đới như táo, lê, mận, đào… hay tham quan các điểm du lịch quen thuộc như Thác Bạc, núi Hàm Rồng, bản Cát Cát, bản Tả Phìn, đỉnh Phanxipang,… thì nay khi đến với Sapa du khách sẽ được thưởng thức đặc sản cá hồi vân nổi tiếng trời Tây và tham quan trại nuôi cá hồi lớn nhất miền Bắc.
< Những chú cá hồi xuất xứ từ trời tây tung tăng bơi lội dưới chân "Nóc nhà Đông Dương".
Dưới chân Thác Bạc, ở độ cao 1.800m so với mực nước biển, những chú cá hồi vân có xuất xứ từ Châu Âu, Châu Mỹ được chăm sóc rất “chu đáo” trong những cái ao nhân tạo. Đặc điểm sinh tồn của cá hồi vân là sống trong môi trường “nước động”, nhiệt độ thấp dưới 15 độ nên toàn bộ nước trong các ao đều được dẫn bởi 1.000m đường ống từ Thác Bạc về trại cá.
Dù được nuôi ở nhiều nơi nhưng đến nay trại nuôi cá hồi Sapa vẫn là đơn vị thành công nhất. Nhiều du khách trong và ngoài nước đã có dịp khám phá, tìm hiểu về quy trình nuôi cá hồi, được tận mắt ngắm nhìn đàn cá tung tăng bơi lội ngay dưới chân Thác Bạc. Sự có mặt của những chú cá hồi vân giữa núi rừng Tây Bắc khiến cho sản phẩm du lịch Sapa trở nên hấp dẫn hơn, đa dạng hơn. Trại nuôi cá ngay dưới chân Thác Bạc là địa điểm được nhiều du khách ghé thăm nhất, bởi nơi đây gần điểm du lịch và nằm ngay dưới chân Fansipan nên rất tiện dừng chân.
Nhiều du khách đến với Sapa không dấu được sự ngỡ ngàng và thích thú trước những chú cá hồi xuất xứ trời tây lại tung tăng bơi lội ở vùng núi, trên độ cao 1.800m.
Hiện nay, trong các nhà hàng, khách sạn nổi tiếng ở Sapa cá hồi vân đã trở thành món ẩm thực hấp dẫn với nhiều du khách trong và ngoài nước.
Với vị ngon đậm đà, thịt có màu hồng đẹp, giá trị dinh dưỡng cao, cá hồi đang là món ăn sang trọng của du khách khi đến với Sapa.
Với khí hậu quanh năm mát mẻ và một mùa đông lạnh thậm chí có cả tuyết bao phủ, cá hồi Sapa có thớ săn, không có mỡ, chất lượng không thua kém cá hồi nhập khẩu, rất thích hợp để chế biến thành nhiều món khác nhau như: gỏi, lẩu, cháo, cá hồi nướng, trứng cá hấp, cá hun khói, salad rau xanh ăn kèm cá hồi tẩm sốt cam và tiêu xanh, cá hồi nhồi dưa chuột…
Cùng với các giá trị độc đáo về thiên nhiên và văn hóa, trong thời tiết se lạnh của Sapa cùng nhâm nhi chém rượu Bắc Hà hay San Lùng và thưởng thức đặc sản cá hồi nướng hay lẩu cá hồi,… là điều thú vị với những ai yêu thích bức tranh thiên nhiên đậm chất Tây Bắc này!
Song An (Dân Trí)
Du lịch, GO!
Chùm ruột ngon hương vị quê nhà
(TTO) - Mỗi độ hè về, đi ngang mấy cổng trường thấy xe bán đồ chua có thêm món chùm ruột ngâm muối đường chấm muối ớt hay những xâu mứt chùm ruột màu đỏ tươi bày bán, tôi lại quay quắt nhớ những kỷ niệm tuổi thơ nơi quê nhà.
Thuở ấy, trước sân nhà nội tôi có trồng một cây chùm ruột sum sê, cành đeo đặc trái trông thật bắt mắt. Cứ đến trưa, cả nhà yên giấc, tôi lại rủ bạn bè leo cây hái chùm ruột đâm nhuyễn ăn với nước mắm đường thật vui. Có khi cười đùa to tiếng, nội thức giấc mắng cho một trận nên thân, nhưng chứng nào tật nấy vẫn không chừa.
Tôi còn nhớ nội thường nói “đồ chua ai thấy cũng thèm, nhưng tụi bây phải cẩn thận đứng dưới mà hái, đừng trèo cao vì nhánh chùm ruột giòn lắm, dễ gãy, không may té thì rất nguy hiểm". Những kỷ niệm tuổi thơ ấy nay đã trở thành hoài niệm...
Chùm ruột (còn gọi là tầm duột, chùm duột, tầm ruột) là loại cây thân gỗ cao, to khoảng 5-6m, thích hợp với khí hậu nóng và hầu như có mặt khắp nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cây có lá kép màu xanh ở mặt trên, xám ở mặt dưới, dài khoảng 4-5cm, nhánh có vỏ màu xám mang nhiều vết sẹo những nhành lá đã rụng. Cây ra hoa từ tháng 12 đến tháng 3-5, mùa trái chín vào khoảng tháng 6-8.
Theo y học hiện đại, trong 100 gam trái chùm ruột có chứa 4,6 mg vitamin C, 5,4 mg calcium, 0,155g chất đạm, 0,8g chất xơ… Vỏ và rễ có chứa 18% tanin, saponin, acid gallic và một chất kết tinh... Theo y học cổ truyền, bộ phận trái, lá, vỏ hoặc rễ chùm ruột đều có dược tính. Trái có tác dụng giải nhiệt, bổ gan, bổ máu, làm da mịn màng. Lá đun nước tắm chữa bệnh ngoài da. Vỏ thân cây có khả năng tiêu độc, trị ung nhọt, sát trùng, đặc biệt chống độc đối với nọc rắn...
Cây chùm ruột có 2 loại trái, ngọt và chua. Trái ngọt thường dùng ăn sống, còn trái chua thường dùng làm gia vị (trái nấu canh chua, lá non dùng gói nem rất tuyệt), làm mứt hay ngâm rượu. Và đối với các bà nội trợ miền Tây phải kể đến món chùm ruột nấu canh chua cá rô, chùm ruột ngâm rượu hoặc mứt chùm ruột cho con cháu ăn trong những ngày hè.
Làm món canh chua cá rô cũng giống như món canh chua truyền thống của người miền Tây, gia vị thay vì me hoặc các chất có vị chua khác thì thay bằng chùm ruột. Chỉ cần bắc nồi nước lên bếp nấu sôi, cho chùm ruột vào vải the đập giập bỏ vào nồi nước sôi cho hòa tan. Nêm nếm gia vị muối, đường, một ít bột ngọt vừa ăn, rồi cho cá rô vào nấu vừa chín tới.
Kế đến, cho đậu bắp, cà chua, cù nèo và cuối cùng thêm rau thơm, tỏi phi vào, nêm nếm lần cuối nhắc xuống, múc ra tô, chuẩn bị một chén nước mắm nguyên chất trong đó có vài trái ớt hiểm chín là xong.
Giẽ miếng thịt cá rô chấm vào chén nước mắm cho vào miệng nhai chậm rãi. Vị dai, béo, ngọt của cá lan tỏa vào miệng. Chan miếng canh chua chùm ruột vào chén cơm lua một hơi sẽ cảm nhận một vị “chua thanh đặc trưng”, ngon không lẫn vào đâu được.
Riêng ông tôi thì rất thích món chùm ruột ngâm rượu. Theo ông, món rượu chùm ruột ngâm rất bổ dưỡng vì trị được nhức mỏi, căn bệnh của tuổi già. Hiểu ý ông, cứ đến mùa chùm ruột chín thể nào bà tôi cũng làm sẵn một keo để ông dùng trong bữa cơm.
Làm món chùm ruột ngâm rượu đơn giản, dễ dàng. Chùm ruột chua già hái xuống rửa sạch để ra rổ cho ráo. Cho chùm ruột vào keo, cứ 1 lớp chùm ruột 1 lớp đường cát rồi đem phơi nhiều nắng cho lên men. Khoảng nửa tháng, khi đường và nước chùm ruột hòa tan có màu vàng nhạt, chỉ cần lược lấy nước cho vào chai là được.
Thông lệ, mỗi bữa ăn ông tôi thường lấy chai rượu chùm ruột ngâm trên tủ xuống, rót vào cái chung nhỏ làm “đánh trót” một cái đầy vẻ sảng khoái...
Còn tôi, vốn bản tính “hảo chua ngọt” nên bà tôi thường làm món mứt chùm ruột cho chúng tôi ăn trong những buổi trưa hè. Làm món này không khó, nhưng tốn công. Phải lựa những trái chùm ruột già, trái to, rửa sạch. Cho chùm ruột vào rổ, dùng đáy dĩa hoặc tấm thớt chà nhẹ cho chùm ruột giập sơ chảy bớt chất chua, nhưng không được chà mạnh tay để trái giập bể, khi sên mứt không đẹp.
Xả nước lạnh vài lần tùy sở thích chua nhiều hay ít, vắt ráo. Cho đường cát vào nồi cùng 1 ly nhỏ sirô đỏ với một tỉ lệ nhất định cho có mùi thơm và màu sắc bắt mắt. Đổ chùm ruột đã sơ chế vào nồi với ngọn lửa liu riu. Dùng đũa sên đều cho đến khi nước đường rút vào sền sệt thì nhắc xuống…
Còn gì thích thú bằng những buổi trưa hè được thưởng thức món mứt chùm ruột thơm ngon, đầy hấp dẫn. Chỉ cần dùng que tre ghim một trái cho vào miệng nhai chậm rãi. Vị ngọt của đường, vị chua nhẹ của chùm ruột khiến ta vui miệng và quên thôi, dĩa mứt chùm ruột cứ vơi dần lúc nào không hay biết.
Theo Thanh Tâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Read More
Thuở ấy, trước sân nhà nội tôi có trồng một cây chùm ruột sum sê, cành đeo đặc trái trông thật bắt mắt. Cứ đến trưa, cả nhà yên giấc, tôi lại rủ bạn bè leo cây hái chùm ruột đâm nhuyễn ăn với nước mắm đường thật vui. Có khi cười đùa to tiếng, nội thức giấc mắng cho một trận nên thân, nhưng chứng nào tật nấy vẫn không chừa.
Tôi còn nhớ nội thường nói “đồ chua ai thấy cũng thèm, nhưng tụi bây phải cẩn thận đứng dưới mà hái, đừng trèo cao vì nhánh chùm ruột giòn lắm, dễ gãy, không may té thì rất nguy hiểm". Những kỷ niệm tuổi thơ ấy nay đã trở thành hoài niệm...
Chùm ruột (còn gọi là tầm duột, chùm duột, tầm ruột) là loại cây thân gỗ cao, to khoảng 5-6m, thích hợp với khí hậu nóng và hầu như có mặt khắp nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cây có lá kép màu xanh ở mặt trên, xám ở mặt dưới, dài khoảng 4-5cm, nhánh có vỏ màu xám mang nhiều vết sẹo những nhành lá đã rụng. Cây ra hoa từ tháng 12 đến tháng 3-5, mùa trái chín vào khoảng tháng 6-8.
Theo y học hiện đại, trong 100 gam trái chùm ruột có chứa 4,6 mg vitamin C, 5,4 mg calcium, 0,155g chất đạm, 0,8g chất xơ… Vỏ và rễ có chứa 18% tanin, saponin, acid gallic và một chất kết tinh... Theo y học cổ truyền, bộ phận trái, lá, vỏ hoặc rễ chùm ruột đều có dược tính. Trái có tác dụng giải nhiệt, bổ gan, bổ máu, làm da mịn màng. Lá đun nước tắm chữa bệnh ngoài da. Vỏ thân cây có khả năng tiêu độc, trị ung nhọt, sát trùng, đặc biệt chống độc đối với nọc rắn...
Cây chùm ruột có 2 loại trái, ngọt và chua. Trái ngọt thường dùng ăn sống, còn trái chua thường dùng làm gia vị (trái nấu canh chua, lá non dùng gói nem rất tuyệt), làm mứt hay ngâm rượu. Và đối với các bà nội trợ miền Tây phải kể đến món chùm ruột nấu canh chua cá rô, chùm ruột ngâm rượu hoặc mứt chùm ruột cho con cháu ăn trong những ngày hè.
Làm món canh chua cá rô cũng giống như món canh chua truyền thống của người miền Tây, gia vị thay vì me hoặc các chất có vị chua khác thì thay bằng chùm ruột. Chỉ cần bắc nồi nước lên bếp nấu sôi, cho chùm ruột vào vải the đập giập bỏ vào nồi nước sôi cho hòa tan. Nêm nếm gia vị muối, đường, một ít bột ngọt vừa ăn, rồi cho cá rô vào nấu vừa chín tới.
Kế đến, cho đậu bắp, cà chua, cù nèo và cuối cùng thêm rau thơm, tỏi phi vào, nêm nếm lần cuối nhắc xuống, múc ra tô, chuẩn bị một chén nước mắm nguyên chất trong đó có vài trái ớt hiểm chín là xong.
Giẽ miếng thịt cá rô chấm vào chén nước mắm cho vào miệng nhai chậm rãi. Vị dai, béo, ngọt của cá lan tỏa vào miệng. Chan miếng canh chua chùm ruột vào chén cơm lua một hơi sẽ cảm nhận một vị “chua thanh đặc trưng”, ngon không lẫn vào đâu được.
Riêng ông tôi thì rất thích món chùm ruột ngâm rượu. Theo ông, món rượu chùm ruột ngâm rất bổ dưỡng vì trị được nhức mỏi, căn bệnh của tuổi già. Hiểu ý ông, cứ đến mùa chùm ruột chín thể nào bà tôi cũng làm sẵn một keo để ông dùng trong bữa cơm.Làm món chùm ruột ngâm rượu đơn giản, dễ dàng. Chùm ruột chua già hái xuống rửa sạch để ra rổ cho ráo. Cho chùm ruột vào keo, cứ 1 lớp chùm ruột 1 lớp đường cát rồi đem phơi nhiều nắng cho lên men. Khoảng nửa tháng, khi đường và nước chùm ruột hòa tan có màu vàng nhạt, chỉ cần lược lấy nước cho vào chai là được.
Thông lệ, mỗi bữa ăn ông tôi thường lấy chai rượu chùm ruột ngâm trên tủ xuống, rót vào cái chung nhỏ làm “đánh trót” một cái đầy vẻ sảng khoái...
Còn tôi, vốn bản tính “hảo chua ngọt” nên bà tôi thường làm món mứt chùm ruột cho chúng tôi ăn trong những buổi trưa hè. Làm món này không khó, nhưng tốn công. Phải lựa những trái chùm ruột già, trái to, rửa sạch. Cho chùm ruột vào rổ, dùng đáy dĩa hoặc tấm thớt chà nhẹ cho chùm ruột giập sơ chảy bớt chất chua, nhưng không được chà mạnh tay để trái giập bể, khi sên mứt không đẹp.
Xả nước lạnh vài lần tùy sở thích chua nhiều hay ít, vắt ráo. Cho đường cát vào nồi cùng 1 ly nhỏ sirô đỏ với một tỉ lệ nhất định cho có mùi thơm và màu sắc bắt mắt. Đổ chùm ruột đã sơ chế vào nồi với ngọn lửa liu riu. Dùng đũa sên đều cho đến khi nước đường rút vào sền sệt thì nhắc xuống…
Còn gì thích thú bằng những buổi trưa hè được thưởng thức món mứt chùm ruột thơm ngon, đầy hấp dẫn. Chỉ cần dùng que tre ghim một trái cho vào miệng nhai chậm rãi. Vị ngọt của đường, vị chua nhẹ của chùm ruột khiến ta vui miệng và quên thôi, dĩa mứt chùm ruột cứ vơi dần lúc nào không hay biết.
Theo Thanh Tâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Gỏi cá trích miền quê biển Xuyên Mộc
(DVO) - Sinh ra và lớn lên trên miền biển Xuyên Mộc (Bà Rịa- Vũng Tàu). Xa quê đã lâu, nay tôi mới có dịp trở lại quê nhà, trước là thăm lại quê hương, sau là có dịp thưởng thức món gỏi cá trích nổi tiếng...
Tuổi thơ của tôi khôn lớn từng ngày trong nắng gió với vịnh biển hiền hòa xanh ngát một màu nhưng cũng dữ dội với những cơn thịnh nộ, cuồng dâng của sóng biển vào những mùa giông tố và cũng gắn liền với những con tàu đánh cá, các loại hải sản cá, mực, tôm, cua do ngư dân đánh bắt về.
Tôi còn nhớ như in, cứ mỗi lần tàu cập bến, mẹ và những phụ nữ quê tôi hối hả ra biển lựa cá, những loại cá lớn có giá trị kinh tế cao thì đem bán, còn những loại cá nhỏ thì phân loại ra làm nước mắm hoặc phơi khô. Có những loại cá nhỏ nhiều vảy, nhiều xương như cá mạo, cá lẹp… Lúc bấy giờ, mẹ tôi thích lựa mua mớ cá trích còn tươi xanh để về làm món gỏi cho cả nhà ăn.
Mẹ tôi cho hay, thịt cá trích ngọt, dai và không tanh rất hợp với món gỏi cá trích. Song, để giữ vị ngọt thanh của cá, món gỏi luôn được chế biến từ cá tươi mới vớt lên từ biển (phải là cá từ các tàu đánh bắt gần bờ, còn tàu đánh bắt xa bờ thì cá phải qua ướp đá không thể làm nên món gỏi cá hấp dẫn) và phải là loại cá có thịt chắc.
Cá trích thường được chọn làm nguyên liệu vì đáp ứng được mọi yêu cầu chế biến và được đánh bắt quanh năm (chỉ trừ những ngày biển động). Để chế biến món gỏi, mẹ chọn những con cá trích tươi xanh bằng khoảng 2 ngón tay cạo sạch vảy, cắt bỏ đầu, đuôi và lườn cá, rửa cá cho sạch để ráo.
Dùng dao thái mỏng lược lấy 2 miếng phi lê, 1 chén dấm nuôi nhúng cá sơ qua để ráo, vắt nước cốt chanh ướp cho cá chín tái, vắt sơ qua để khi cho gia vị cá không bị ướt.
Sau đó trộn thịt cá với hành tím thái mỏng và tỏi phi, hành phi; thính gạo rang vàng xay vừa nhỏ; gừng, riềng thái sợi nhỏ; ớt, tiêu, muối, đường, bột ngọt, đậu phụng rang giã dập trộn đều cho thấm gia vị.
Quê tôi, ở bên bờ sông Ray nên có nhiều loại đọt cây để ăn với gỏi cá trích tạo nên hương vị rất đặc trưng như đọt non các loại cây: điều, xoài, ổi, cùng với các loại rau sống trồng trong vườn như các loại rau thơm, đọt đinh lăng, dưa leo, chuối chát, búp chuối…
Mẹ tôi cũng rất khéo tay làm món nước mắm chua ngọt khá ngon với nước mắm ngon Phan Thiết cùng với mì chính, tỏi, ớt, chanh, đường…Đi học về bụng đang đói, sẵn món gỏi mẹ vừa làm xong , anh em chúng tôi tha hồ dùng bánh tráng cuốn rau sống kèm gỏi cá và không quên rắc thêm vài sợi dừa nạo rồi cuốn lại chấm vào nước mắm chua ngọt mà tha hồ thưởng thức.
Vị ngọt của cá, vị mát của rau, vị bùi của thính, vị thơm của gia vị và nhất là mùi thơm, chát đặc trưng của “rau rừng” hòa quyện hương vị của “cá trích” ở biển khơi, tan trong vòm miệng làm cho anh em chúng tôi có một cảm giác rất ngon nhưng khó tả được thành lời. Lúc bấy giờ, cha tôi không thể thiếu một ly rượu nếp “đưa cay” thì không có gì cha tôi thích thú bằng.
Giờ đây, xa quê hương đã lâu với bao bận bịu mưu sinh cùng những nỗi lo toan trong cuộc sống đời thường nơi đất khách quê người, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên món gỏi cá trích quê nhà do chính bàn tay mẹ hiền chế biến lúc tôi còn thơ bé đã ấp ủ trong tôi suốt cả cuộc đời.
Theo Mỹ Nhân (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Read More
Tuổi thơ của tôi khôn lớn từng ngày trong nắng gió với vịnh biển hiền hòa xanh ngát một màu nhưng cũng dữ dội với những cơn thịnh nộ, cuồng dâng của sóng biển vào những mùa giông tố và cũng gắn liền với những con tàu đánh cá, các loại hải sản cá, mực, tôm, cua do ngư dân đánh bắt về.
Tôi còn nhớ như in, cứ mỗi lần tàu cập bến, mẹ và những phụ nữ quê tôi hối hả ra biển lựa cá, những loại cá lớn có giá trị kinh tế cao thì đem bán, còn những loại cá nhỏ thì phân loại ra làm nước mắm hoặc phơi khô. Có những loại cá nhỏ nhiều vảy, nhiều xương như cá mạo, cá lẹp… Lúc bấy giờ, mẹ tôi thích lựa mua mớ cá trích còn tươi xanh để về làm món gỏi cho cả nhà ăn.
Mẹ tôi cho hay, thịt cá trích ngọt, dai và không tanh rất hợp với món gỏi cá trích. Song, để giữ vị ngọt thanh của cá, món gỏi luôn được chế biến từ cá tươi mới vớt lên từ biển (phải là cá từ các tàu đánh bắt gần bờ, còn tàu đánh bắt xa bờ thì cá phải qua ướp đá không thể làm nên món gỏi cá hấp dẫn) và phải là loại cá có thịt chắc.
Cá trích thường được chọn làm nguyên liệu vì đáp ứng được mọi yêu cầu chế biến và được đánh bắt quanh năm (chỉ trừ những ngày biển động). Để chế biến món gỏi, mẹ chọn những con cá trích tươi xanh bằng khoảng 2 ngón tay cạo sạch vảy, cắt bỏ đầu, đuôi và lườn cá, rửa cá cho sạch để ráo.
Dùng dao thái mỏng lược lấy 2 miếng phi lê, 1 chén dấm nuôi nhúng cá sơ qua để ráo, vắt nước cốt chanh ướp cho cá chín tái, vắt sơ qua để khi cho gia vị cá không bị ướt.
Sau đó trộn thịt cá với hành tím thái mỏng và tỏi phi, hành phi; thính gạo rang vàng xay vừa nhỏ; gừng, riềng thái sợi nhỏ; ớt, tiêu, muối, đường, bột ngọt, đậu phụng rang giã dập trộn đều cho thấm gia vị.
Quê tôi, ở bên bờ sông Ray nên có nhiều loại đọt cây để ăn với gỏi cá trích tạo nên hương vị rất đặc trưng như đọt non các loại cây: điều, xoài, ổi, cùng với các loại rau sống trồng trong vườn như các loại rau thơm, đọt đinh lăng, dưa leo, chuối chát, búp chuối…
Mẹ tôi cũng rất khéo tay làm món nước mắm chua ngọt khá ngon với nước mắm ngon Phan Thiết cùng với mì chính, tỏi, ớt, chanh, đường…Đi học về bụng đang đói, sẵn món gỏi mẹ vừa làm xong , anh em chúng tôi tha hồ dùng bánh tráng cuốn rau sống kèm gỏi cá và không quên rắc thêm vài sợi dừa nạo rồi cuốn lại chấm vào nước mắm chua ngọt mà tha hồ thưởng thức.
Vị ngọt của cá, vị mát của rau, vị bùi của thính, vị thơm của gia vị và nhất là mùi thơm, chát đặc trưng của “rau rừng” hòa quyện hương vị của “cá trích” ở biển khơi, tan trong vòm miệng làm cho anh em chúng tôi có một cảm giác rất ngon nhưng khó tả được thành lời. Lúc bấy giờ, cha tôi không thể thiếu một ly rượu nếp “đưa cay” thì không có gì cha tôi thích thú bằng.
Giờ đây, xa quê hương đã lâu với bao bận bịu mưu sinh cùng những nỗi lo toan trong cuộc sống đời thường nơi đất khách quê người, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên món gỏi cá trích quê nhà do chính bàn tay mẹ hiền chế biến lúc tôi còn thơ bé đã ấp ủ trong tôi suốt cả cuộc đời.
Theo Mỹ Nhân (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Gỏi khế cá khô đồng, ngũ vị món
(DVO) - Đó là món ăn rất thú vị của miền Tây mà không phải ai cũng đã từng được nếm, được thưởng thức với đầy đủ ngũ vị chua, cay, thơm, ngọt và mằn mặn.
Món ăn này khá lạ đối với những người thị thành, nhưng khi được nếm thử một lần, ai cũng sẽ phải xuýt xoa và nhớ mãi. Món gỏi khế cá khô đồng .
Món gỏi khế mới nghe qua ngỡ là đơn giản nhưng giai đoạn chế biến lại khá kỹ lưỡng và cầu kỳ. Từ ngày nhỏ, tôi đã ghiền món gỏi khế này đến độ mỗi lúc khế vào mùa, ngày nào tôi cũng ra vườn chọn những quả to và xanh bóng để mẹ làm gỏi. Khế không được quá non hoặc quá chín mềm. Quả khế phải vừa đúng độ “ già” và phải là khế chua. Bởi loại khế chua lúc nào cũng có một mùi hương thơm đặc trưng rất hấp dẫn.
Khế sau khi rửa sạch được bào thành từng sợi mỏng, rồi bóp sơ với muối cho bớt độ chua và đắng chát. Loại khô dùng để trộn gỏi có thể tùy theo ý thích, như khô cá sặc rằn, khô cá lóc, khô cá bổi, khô cá kèo… Những loại khô quen thuộc của vùng đất phù sa màu mỡ miền Tây.
Khô được chọn để làm gỏi không được quá mặn mà chỉ vừa đủ độ mằn mặn cần thiết. Sau khi được nướng chín tỏa mùi thơm nức mũi, khô được xé thành từng sợi dài vừa gắp. Ngoài ra còn có thể có thêm tôm khô, mực và đậu phộng tùy theo sở thích. Cộng thêm một chút đường, một vài trái ớt hiểm,một chút chanh, hành lá và một nắm rau răm vườn nhà. Vậy là thành một món gỏi khế ngon lành.
Gỏi khế cá khô đồng thường được ăn với cơm nóng hoặc nhâm nhi với rượu nếp trong những khi họp mặt. Gắp một miếng gỏi chấm vào chén nước mắm tỏi ớt, vị thơm thơm của khế, vị mằn mặn của cá khô, vị ngọt ngọt chua chua đặc trưng của gỏi và vị cay xè của tỏi ớt như thấm nhuần vào cả tâm hồn.
Buổi chiều được ngồi nơi bờ sông lồng lộng gió, một đĩa gỏi khế cá khô đồng, một chai rượu nếp, được nghe đờn ca tài tử, khó có ai có thể chối từ được sự giản dị nhưng độc đáo của ẩm thực và sự tận tình, chu đáo của người miền Tây.
Nếu có dịp xuôi về nơi sông nước hiền hòa, bỏ qua những xa hoa lộng lẫy của phố thị, bạn hãy thử món gỏi khế cá khô đồng. Có lẽ món ăn này không thể sánh bằng những món ăn đắt tiền trên phố, nhưng bạn sẽ mãi thòm thèm. Không chỉ là đơn giản là thèm món gỏi khế đưa hương lạ miệng, mà còn ở sự yên bình chân chất của một nét quê.
Theo Nguyễn Thị Tường Linh (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Read More
Món ăn này khá lạ đối với những người thị thành, nhưng khi được nếm thử một lần, ai cũng sẽ phải xuýt xoa và nhớ mãi. Món gỏi khế cá khô đồng .
Món gỏi khế mới nghe qua ngỡ là đơn giản nhưng giai đoạn chế biến lại khá kỹ lưỡng và cầu kỳ. Từ ngày nhỏ, tôi đã ghiền món gỏi khế này đến độ mỗi lúc khế vào mùa, ngày nào tôi cũng ra vườn chọn những quả to và xanh bóng để mẹ làm gỏi. Khế không được quá non hoặc quá chín mềm. Quả khế phải vừa đúng độ “ già” và phải là khế chua. Bởi loại khế chua lúc nào cũng có một mùi hương thơm đặc trưng rất hấp dẫn.
Khế sau khi rửa sạch được bào thành từng sợi mỏng, rồi bóp sơ với muối cho bớt độ chua và đắng chát. Loại khô dùng để trộn gỏi có thể tùy theo ý thích, như khô cá sặc rằn, khô cá lóc, khô cá bổi, khô cá kèo… Những loại khô quen thuộc của vùng đất phù sa màu mỡ miền Tây.
Khô được chọn để làm gỏi không được quá mặn mà chỉ vừa đủ độ mằn mặn cần thiết. Sau khi được nướng chín tỏa mùi thơm nức mũi, khô được xé thành từng sợi dài vừa gắp. Ngoài ra còn có thể có thêm tôm khô, mực và đậu phộng tùy theo sở thích. Cộng thêm một chút đường, một vài trái ớt hiểm,một chút chanh, hành lá và một nắm rau răm vườn nhà. Vậy là thành một món gỏi khế ngon lành.
Gỏi khế cá khô đồng thường được ăn với cơm nóng hoặc nhâm nhi với rượu nếp trong những khi họp mặt. Gắp một miếng gỏi chấm vào chén nước mắm tỏi ớt, vị thơm thơm của khế, vị mằn mặn của cá khô, vị ngọt ngọt chua chua đặc trưng của gỏi và vị cay xè của tỏi ớt như thấm nhuần vào cả tâm hồn.
Buổi chiều được ngồi nơi bờ sông lồng lộng gió, một đĩa gỏi khế cá khô đồng, một chai rượu nếp, được nghe đờn ca tài tử, khó có ai có thể chối từ được sự giản dị nhưng độc đáo của ẩm thực và sự tận tình, chu đáo của người miền Tây.
Nếu có dịp xuôi về nơi sông nước hiền hòa, bỏ qua những xa hoa lộng lẫy của phố thị, bạn hãy thử món gỏi khế cá khô đồng. Có lẽ món ăn này không thể sánh bằng những món ăn đắt tiền trên phố, nhưng bạn sẽ mãi thòm thèm. Không chỉ là đơn giản là thèm món gỏi khế đưa hương lạ miệng, mà còn ở sự yên bình chân chất của một nét quê.
Theo Nguyễn Thị Tường Linh (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Ra Côn Đảo nhớ ăn hạt bàng rang
(TTO) - Nghe tin tôi đi Côn Đảo, anh bạn thân vồn vã "nhớ mua cho mình hũ hạt bàng rang ăn đỡ ghiền!”, tôi ngạc nhiên nhưng vẫn cứ gật đầu. Và chưa chi, ký ức tuổi thơ lại ùa về. Tôi nhớ giảng văn những năm trung học ngày xưa thầy dạy có bài “Nhặt lá bàng” của Nhất Linh với hình ảnh hai chị em nghèo, phong phanh áo vải trong đêm đông giá buốt tranh nhau nhặt lá bàng về làm chất đốt sưởi ấm cho gia đình. Câu chuyện xúc động và mang tính nhân văn sâu sắc...
Tôi cũng nhớ rõ ngày ấy trước sân đình làng tôi có cây bàng cổ thụ tỏa bóng râm mát. Những buổi trưa hè oi ả, bọn trẻ chúng tôi thường tụ tập nhau đá bóng, đá cầu, nhảy lò cò hoặc tán u rất vui nhộn. Mùa hè cũng là mùa bàng ra trái. Khi có gió to, trái bàng chín rụng đầy sân và bọn tôi tranh nhau lượm...
Trái bàng chín cạp phần thịt bên ngoài chua chua, ngọt ngọt rất vui miệng. Còn phần hạt cứng bên trong thì dùng cục đá đập lấy nhân cho vào miệng nhai beo béo, bùi bùi thật hấp dẫn. Hình bóng cây bàng được xem như người bạn thân thiết đối với tuổi thơ tôi chỉ có thế, còn hạt bàng rang thì chưa nghe.

< Con đường rợp bóng cây bàng ven bờ biển thị trấn Côn Đảo.
Những kỷ niệm xưa và lời dặn dò của bạn cứ thế đeo đẳng trong tôi suốt hành trình cho đến khi đặt chân lên thị trấn Côn Đảo. Tôi thuê xe máy đi vòng quanh thị trấn rồi xuống bờ biển ngồi ở cầu tàu 914 để chiêm ngưỡng cảnh quan và tìm hình bóng cây bàng thời quá khứ.
Trước mắt tôi là những hàng bàng cổ thụ, thân cây to cỡ hai người ôm không xuể, tàn lá xanh mướt sum sê che rợp bóng những con đường. Gốc cây đen sù sì, nhiều u nần trông hình thù rất cổ quái. Vòng khắp đảo, đâu đâu cũng thấy bóng cây bàng, nhiều tuổi cũng như mới trồng. Thưởng ngoạn đã đời, tôi mới hỏi thăm một anh xe ôm chỗ bán hạt bàng rang. Tiếp tôi, chị Kim Hạnh - chủ cơ sở chế biến hạt bàng Lâm Thủy trên đường Nguyễn An Ninh, thị trấn Côn Đảo - vui vẻ kể đủ thứ chuyện.
< Trái bàng vào mùa chín rộ.
Mùa hè là mùa trái bàng chín, khoảng một tháng sau là hết. Muốn có hạt bàng để chế biến phải thu trữ trái bàng chín của những người dân nơi đây. Giá thu mua đầu vụ trái bàng mới rụng giá 20.000 đồng/bao 10kg, cuối vụ giá có cao đôi chút khoảng 30.000 đồng/bao. Còn giá trái bàng đã phơi khô là 50.000 đồng/bao.
Để có được 1kg hạt bàng cũng mất cả ngày công. Trái bàng phải phơi thật khô, vỏ ngả màu nâu sẫm (trái chín vỏ có màu vàng, sau ngả màu đỏ). Dùng dao bén chặt đôi trái theo chiều ngang để lấy hạt ra. Đây cũng là một kỹ thuật đòi hỏi sự kinh nghiệm nếu không hạt bàng sẽ đứt làm đôi, nát vụn không rang được.
Hạt bàng có vỏ lụa màu vàng sậm giống như vỏ đậu phộng, hình dáng giống hạt gạo nhưng to gấp 4-5 lần, hai đầu hạt nhọn. Mỗi trái chỉ có một hạt. Lấy hạt xong mang phơi lại cho khô, sau đó mới cho vào chảo rang.
< Trái bàng mới thu lượm.
Hạt bàng có hai cách chế biến là rang muối và rang đường. Làm món hạt bàng rang muối rất dễ dàng và nhanh gọn. Chỉ cần bắc chảo lên bếp cho hạt bàng vào rang chín, đổ ra thau. Kế đến, cho muối bọt vào chảo cùng một ít nước với ngọn lửa liu riu cho muối tan ra rồi cho hạt bàng đã rang vào.
Dùng xạng đảo đều tay không ngơi nghỉ cho muối thấm khô vào hạt. Khi vỏ hạt ngả màu nâu như màu nếp than và có mùi thơm, lấy một ít hạt cho vào miệng thử xem độ mặn có vừa khẩu vị là nhắc xuống.
Hạt bàng rang đường hơi nhọc công một chút vì phải trải qua hai công đoạn. Đầu tiên là rang muối xong đổ ra thau để nguội. Kế đến, bắc chảo lên bếp cho đường cát vào nồi với một ít nước cho đường sôi và hơi sền sệt rồi cho hạt bàng (đã rang muối) vào. Đảo đều tay cho đến khi đường khô thì nhắc xuống.
< Hạt bàng rang, đặc sản Côn Đảo.
Rang hạt bàng phải dùng đường cát trắng, đường cát vàng là hỏng bởi khi rang bị lợi đường. Hạt bàng rang muối hiện có giá khoảng 350.000 đồng/kg, rang đường 280.000 đồng/kg. Mua vài lạng ăn cũng đã thấy bõ thèm.
Chiều về, đi lang thang dưới những bóng bàng cổ thụ, nghe tiếng sóng vỗ rì rào thổi vào mặt mát rượi nơi bờ biển Côn Đảo. Thong dong bốc một nhúm hạt bàng rang muối cho vào miệng nhai chậm rãi. Mùi thơm, vị béo, bùi, giòn của hạt hòa lẫn vị mằn mặn của muối thấm dần vào vị giác, len xuống tận thực quản. Lúc này có thêm một tách trà ngon, nóng, đậm thêm vào thì thật không còn gì bằng...
Theo Thanh Tâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Read More
Tôi cũng nhớ rõ ngày ấy trước sân đình làng tôi có cây bàng cổ thụ tỏa bóng râm mát. Những buổi trưa hè oi ả, bọn trẻ chúng tôi thường tụ tập nhau đá bóng, đá cầu, nhảy lò cò hoặc tán u rất vui nhộn. Mùa hè cũng là mùa bàng ra trái. Khi có gió to, trái bàng chín rụng đầy sân và bọn tôi tranh nhau lượm...
Trái bàng chín cạp phần thịt bên ngoài chua chua, ngọt ngọt rất vui miệng. Còn phần hạt cứng bên trong thì dùng cục đá đập lấy nhân cho vào miệng nhai beo béo, bùi bùi thật hấp dẫn. Hình bóng cây bàng được xem như người bạn thân thiết đối với tuổi thơ tôi chỉ có thế, còn hạt bàng rang thì chưa nghe.

< Con đường rợp bóng cây bàng ven bờ biển thị trấn Côn Đảo.
Những kỷ niệm xưa và lời dặn dò của bạn cứ thế đeo đẳng trong tôi suốt hành trình cho đến khi đặt chân lên thị trấn Côn Đảo. Tôi thuê xe máy đi vòng quanh thị trấn rồi xuống bờ biển ngồi ở cầu tàu 914 để chiêm ngưỡng cảnh quan và tìm hình bóng cây bàng thời quá khứ.
Trước mắt tôi là những hàng bàng cổ thụ, thân cây to cỡ hai người ôm không xuể, tàn lá xanh mướt sum sê che rợp bóng những con đường. Gốc cây đen sù sì, nhiều u nần trông hình thù rất cổ quái. Vòng khắp đảo, đâu đâu cũng thấy bóng cây bàng, nhiều tuổi cũng như mới trồng. Thưởng ngoạn đã đời, tôi mới hỏi thăm một anh xe ôm chỗ bán hạt bàng rang. Tiếp tôi, chị Kim Hạnh - chủ cơ sở chế biến hạt bàng Lâm Thủy trên đường Nguyễn An Ninh, thị trấn Côn Đảo - vui vẻ kể đủ thứ chuyện.
< Trái bàng vào mùa chín rộ.
Mùa hè là mùa trái bàng chín, khoảng một tháng sau là hết. Muốn có hạt bàng để chế biến phải thu trữ trái bàng chín của những người dân nơi đây. Giá thu mua đầu vụ trái bàng mới rụng giá 20.000 đồng/bao 10kg, cuối vụ giá có cao đôi chút khoảng 30.000 đồng/bao. Còn giá trái bàng đã phơi khô là 50.000 đồng/bao.
Để có được 1kg hạt bàng cũng mất cả ngày công. Trái bàng phải phơi thật khô, vỏ ngả màu nâu sẫm (trái chín vỏ có màu vàng, sau ngả màu đỏ). Dùng dao bén chặt đôi trái theo chiều ngang để lấy hạt ra. Đây cũng là một kỹ thuật đòi hỏi sự kinh nghiệm nếu không hạt bàng sẽ đứt làm đôi, nát vụn không rang được.
Hạt bàng có vỏ lụa màu vàng sậm giống như vỏ đậu phộng, hình dáng giống hạt gạo nhưng to gấp 4-5 lần, hai đầu hạt nhọn. Mỗi trái chỉ có một hạt. Lấy hạt xong mang phơi lại cho khô, sau đó mới cho vào chảo rang.
< Trái bàng mới thu lượm.
Hạt bàng có hai cách chế biến là rang muối và rang đường. Làm món hạt bàng rang muối rất dễ dàng và nhanh gọn. Chỉ cần bắc chảo lên bếp cho hạt bàng vào rang chín, đổ ra thau. Kế đến, cho muối bọt vào chảo cùng một ít nước với ngọn lửa liu riu cho muối tan ra rồi cho hạt bàng đã rang vào.
Dùng xạng đảo đều tay không ngơi nghỉ cho muối thấm khô vào hạt. Khi vỏ hạt ngả màu nâu như màu nếp than và có mùi thơm, lấy một ít hạt cho vào miệng thử xem độ mặn có vừa khẩu vị là nhắc xuống.
Hạt bàng rang đường hơi nhọc công một chút vì phải trải qua hai công đoạn. Đầu tiên là rang muối xong đổ ra thau để nguội. Kế đến, bắc chảo lên bếp cho đường cát vào nồi với một ít nước cho đường sôi và hơi sền sệt rồi cho hạt bàng (đã rang muối) vào. Đảo đều tay cho đến khi đường khô thì nhắc xuống.
< Hạt bàng rang, đặc sản Côn Đảo.
Rang hạt bàng phải dùng đường cát trắng, đường cát vàng là hỏng bởi khi rang bị lợi đường. Hạt bàng rang muối hiện có giá khoảng 350.000 đồng/kg, rang đường 280.000 đồng/kg. Mua vài lạng ăn cũng đã thấy bõ thèm.
Chiều về, đi lang thang dưới những bóng bàng cổ thụ, nghe tiếng sóng vỗ rì rào thổi vào mặt mát rượi nơi bờ biển Côn Đảo. Thong dong bốc một nhúm hạt bàng rang muối cho vào miệng nhai chậm rãi. Mùi thơm, vị béo, bùi, giòn của hạt hòa lẫn vị mằn mặn của muối thấm dần vào vị giác, len xuống tận thực quản. Lúc này có thêm một tách trà ngon, nóng, đậm thêm vào thì thật không còn gì bằng...
Theo Thanh Tâm (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Ghé xuồng ăn bánh cống xà no
(DVO) - Đến Xà No, người ta không quên ghé qua và hàng quán ven đường ăn cái bánh cống vừa lạ miệng vừa như nghe tâm hồn gợi nhớ chuyện xa xăm tự ngày xưa ấy…
Chiều chiều xuôi dòng Xà No chảy trong lòng thành phố Vị Thanh của tỉnh Hậu Giang nghe câu hát ngọt lịm vọng lại từ chiếc xuồng ba lá khiến khách xa quê không khỏi bồi hồi nhung nhớ.
Hậu Giang sông nước dâng tràn,
Ghé xuồng thăm quán cô hàng năm xưa.
Bánh cống nhộp nhịp người mua,
Ngọt ngon hương vị quê mùa khó quên!
Cái tên Xà No bắt nguồn từ tiếng Khmer có nghĩa là điển điển. Đây là loài cây hoang mọc nhanh vào mùa nước nổi. Bông điên điển rực vàng như tạo thêm dáng vẻ yêu kiều cho vùng quê dân dã.
Bánh cống, cái tên nghe sao mà dân dã, nhưng cũng rất chân tình. Người miền quê, nghĩ sao gọi vậy, kêu vậy. Bánh chiên trong cái cống, giống như dụng cụ múc, đong nước, đong xăng dầu, … và dân gian cứ thế mà kêu. Nói ra ai cũng biết.
Muốn có cái bánh ngon, giòn khướu thì phải lựa gạo lúa mùa. Ngâm gạo qua đêm rồi xay mịn, bồng, dằn cho bột khô. Khi ngâm gạo, người ta ngâm luôn chừng nửa lon đậu nành. Bột xay xong thì xay đậu, lấy nước đậu đó nhồi với bột cho vừa tới không quá lỏng cũng không quá đặc. Bánh chai cứng hay xốp, giòn sẽ quyết định từ công việc quan trọng này.
Đem đậu xanh cà đãi sạch vỏ rồi hấp cho đậu chín. Người ta hấp chứ không luộc bởi hấp đậu chín mà không thấm nước, như vậy mới ngon. Tép bạc lựa con cỡ ngón tay, rửa sạch rồi để sống, thứ này không cần làm chín trước. Thịt heo cả nạc lẫn ít mỡ bằm nhuyễn nêm ít tiêu, đường, muối, … xào sơ cho thịt săn lại.
Chuẩn bị xong bột và nhưn đến khâu chiên bánh. Chảo nóng, đổ ngập mỡ heo thắng hoặc dầu ăn, từng cái cống bằng nhôm hoặc inox được chuẩn bị sẵn, rửa sạch, để ráo. Khi mỡ (hoặc dầu) sôi thì thoa sơ qua cống lớp mỡ thắng, múc bột đã pha chế lót dưới đáy, rắc ít nhưn đậu xanh lên, lớp kế là thịt xào, rồi lại phủ lên ít đậu, tiếp theo là bột.
Đến đây, người chiên gõ gõ cái cống đầy hỗn hợp ấy xuống thớt mấy lần. Làm vậy cho bột phía trên chảy và thấm xuống thịt, đậu ở dưới. Trên cùng người ta để con tép bạc còn nguyên râu, càng nằm ngang.
Từng chiếc cống đầy bột và nhưn ấy lần lượt được nhún từ từ vào chảo dầu sôi. Lát sau, bánh bắt đầu chín và tự bung ra khỏi khuôn rồi nổi lềnh bềnh trên mặt chảo. Chiên thêm chút nữa, bánh sẽ ngã màu vàng sậm. Vớt bánh ra để trên mấy thanh tre gác ngang một phần miệng chảo. Làm vậy, bánh sẽ nhỏ hết dầu, mỡ trở lại.
Gắp từng cái bánh ra dĩa. Rau rừng các loại từ lá cách, lá cát lồi, đọt sung, đọt sộp, … đến từng bẹ bắp cải trắng phau, bông điên điển vàng, lá non của bông súng vừa xanh, vừa tím, …
Nước chấm bánh cũng được làm khá công phu. Ớt tỏi bằm nhuyễn pha với nước giấm hoặc nước cốt chanh, thêm chút đường, bột ngọt, … Đặc biệt dân gian thường dùng nước mắm Hòn (cách gọi chung nước mắm làm từ vùng Nam Du, Lại Sơn, Phú Quốc, …) hảo hạng chế biến từ cá cơm.
Trong chén nước chấm người ta còn để thêm ít củ cải trắng, đỏ xắt sợi bóp chua nổi bồng bềnh vừa đẹp mắt vừa ngon miệng.
Người ăn bánh cống sành điệu không dùng đũa mà chỉ dùng tay xé bánh cuộn với rau rồi chấm nước mắm. Có lẽ vì cách ăn dân dã như vậy, mà ở phần đầu bài viết này chúng tôi đã nói, người thưởng thức như thấy được bóng dáng của cuộc sống tiền nhân ngày trước hiện về, mộc mạc, chân tình, quá đỗi thân thương.
Mời nhau miếng bánh chiên giòn,
Mai kia mốt nọ vẫn còn nhớ thương.
Hai Miệt Vườn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Read More
Chiều chiều xuôi dòng Xà No chảy trong lòng thành phố Vị Thanh của tỉnh Hậu Giang nghe câu hát ngọt lịm vọng lại từ chiếc xuồng ba lá khiến khách xa quê không khỏi bồi hồi nhung nhớ.
Hậu Giang sông nước dâng tràn,
Ghé xuồng thăm quán cô hàng năm xưa.
Bánh cống nhộp nhịp người mua,
Ngọt ngon hương vị quê mùa khó quên!
Cái tên Xà No bắt nguồn từ tiếng Khmer có nghĩa là điển điển. Đây là loài cây hoang mọc nhanh vào mùa nước nổi. Bông điên điển rực vàng như tạo thêm dáng vẻ yêu kiều cho vùng quê dân dã.
Bánh cống, cái tên nghe sao mà dân dã, nhưng cũng rất chân tình. Người miền quê, nghĩ sao gọi vậy, kêu vậy. Bánh chiên trong cái cống, giống như dụng cụ múc, đong nước, đong xăng dầu, … và dân gian cứ thế mà kêu. Nói ra ai cũng biết.
Muốn có cái bánh ngon, giòn khướu thì phải lựa gạo lúa mùa. Ngâm gạo qua đêm rồi xay mịn, bồng, dằn cho bột khô. Khi ngâm gạo, người ta ngâm luôn chừng nửa lon đậu nành. Bột xay xong thì xay đậu, lấy nước đậu đó nhồi với bột cho vừa tới không quá lỏng cũng không quá đặc. Bánh chai cứng hay xốp, giòn sẽ quyết định từ công việc quan trọng này.
Đem đậu xanh cà đãi sạch vỏ rồi hấp cho đậu chín. Người ta hấp chứ không luộc bởi hấp đậu chín mà không thấm nước, như vậy mới ngon. Tép bạc lựa con cỡ ngón tay, rửa sạch rồi để sống, thứ này không cần làm chín trước. Thịt heo cả nạc lẫn ít mỡ bằm nhuyễn nêm ít tiêu, đường, muối, … xào sơ cho thịt săn lại.
Chuẩn bị xong bột và nhưn đến khâu chiên bánh. Chảo nóng, đổ ngập mỡ heo thắng hoặc dầu ăn, từng cái cống bằng nhôm hoặc inox được chuẩn bị sẵn, rửa sạch, để ráo. Khi mỡ (hoặc dầu) sôi thì thoa sơ qua cống lớp mỡ thắng, múc bột đã pha chế lót dưới đáy, rắc ít nhưn đậu xanh lên, lớp kế là thịt xào, rồi lại phủ lên ít đậu, tiếp theo là bột.
Đến đây, người chiên gõ gõ cái cống đầy hỗn hợp ấy xuống thớt mấy lần. Làm vậy cho bột phía trên chảy và thấm xuống thịt, đậu ở dưới. Trên cùng người ta để con tép bạc còn nguyên râu, càng nằm ngang.
Từng chiếc cống đầy bột và nhưn ấy lần lượt được nhún từ từ vào chảo dầu sôi. Lát sau, bánh bắt đầu chín và tự bung ra khỏi khuôn rồi nổi lềnh bềnh trên mặt chảo. Chiên thêm chút nữa, bánh sẽ ngã màu vàng sậm. Vớt bánh ra để trên mấy thanh tre gác ngang một phần miệng chảo. Làm vậy, bánh sẽ nhỏ hết dầu, mỡ trở lại.
Gắp từng cái bánh ra dĩa. Rau rừng các loại từ lá cách, lá cát lồi, đọt sung, đọt sộp, … đến từng bẹ bắp cải trắng phau, bông điên điển vàng, lá non của bông súng vừa xanh, vừa tím, …
Nước chấm bánh cũng được làm khá công phu. Ớt tỏi bằm nhuyễn pha với nước giấm hoặc nước cốt chanh, thêm chút đường, bột ngọt, … Đặc biệt dân gian thường dùng nước mắm Hòn (cách gọi chung nước mắm làm từ vùng Nam Du, Lại Sơn, Phú Quốc, …) hảo hạng chế biến từ cá cơm.
Trong chén nước chấm người ta còn để thêm ít củ cải trắng, đỏ xắt sợi bóp chua nổi bồng bềnh vừa đẹp mắt vừa ngon miệng.
Người ăn bánh cống sành điệu không dùng đũa mà chỉ dùng tay xé bánh cuộn với rau rồi chấm nước mắm. Có lẽ vì cách ăn dân dã như vậy, mà ở phần đầu bài viết này chúng tôi đã nói, người thưởng thức như thấy được bóng dáng của cuộc sống tiền nhân ngày trước hiện về, mộc mạc, chân tình, quá đỗi thân thương.
Mời nhau miếng bánh chiên giòn,
Mai kia mốt nọ vẫn còn nhớ thương.
Hai Miệt Vườn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng
(
Atom
)





































