Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự tình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự tình. Hiển thị tất cả bài đăng

Phố cổ Kon Tum, mai có nhớ?

Lần đầu đến với Kon Tum, tôi không khỏi ngỡ ngàng với một thành phố trên Cao Nguyên lại mang dáng dấp của một đô thị đồng bằng nằm trong một thung lũng bằng phẳng, lại có dòng sông Đăk Bla hiền hòa uốn lượn, ôm gọn vào lòng thành phố nhỏ bé với nét đẹp dịu dàng, không xô bồ ồn ào như những trung tâm đô thị khác.

Mặc dù theo xu thế phát triển của xã hội, kiến trúc nhà cửa đã thay đổi rất nhiều nhưng tôi vẫn nhận ra nét hoài cổ vẫn còn phảng phất đâu đó ở một góc phố, con đường… Bị lôi cuốn bởi điều này, tôi đã lần tìm từng trang tài liệu và được biết, nơi đây sau bao thăng trầm lịch sử, từ những cuộc di dân từ nhiều miền đất khác nhau của  các dân tộc anh em đã tìm đến nơi này sinh sống. Khi người Kinh lên đây định cư, Kon Tum từ đó trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc và đã hình thành lên một khu phố cổ nhất Tây Nguyên.

Việc các giáo sĩ phương Tây tìm đến Làng Hồ (Kon Tum) để truyền đạo mà không chọn Đà Lạt, Ban Mê Thuột hay Pleiku là do có những lý do lịch sử của nó, dù rằng những vùng đất kia thuận lợi về nhiều mặt hơn vùng Kon Tum lúc đó: địa lý, kinh tế, văn hóa. Vì dưới triều Minh Mạng (1820 - 1840), nhà Nguyễn đã ra chỉ dụ “Bình Tây sát tả”. Để tránh bị tàn sát hoặc trục xuất. Từ năm 1846, Thầy sáu Do (sau này được tấn phong linh mục) đã vâng mạng Giám mục Stéphan Cuénot thuộc giáo phận Qui Nhơn đi về hướng Tây, chọn Kon Tum bởi lúc này là vùng hoàn toàn biệt lập, không chịu ảnh hưởng của nhà Nguyễn.

Kon Tum lúc đó rất hoang sơ, hẻo lánh. Chỉ có người Ba Na, Xê Đăng, Ja Rai… định cư. Nguyễn Do đã chọn nơi này là nơi dừng chân, thực hiện mục đích di dân, xây dựng nền móng Ki Tô giáo lên miền rừng núi Tây Nguyên. Ông đã ghi lại trong nhật ký: “chưa có làng xóm người Kinh nào xuất hiện tại đây. Chỉ có vài nhóm người lẻ tẻ từ vùng An Lũy (sau này đổi tên thành An Khê) vượt núi mang theo muối, kim chỉ để đổi lấy da thú rừng, sa nhân…”. Những người lái buôn chỉ lưu lại đây vài ngày, đổi được hàng thì về xuôi, không dám ở lại lâu.

Quá trình truyền giáo ở Kon Tum của linh mục Do phát triển mạnh trong vòng 40 năm (1846 - 1885). Hầu hết các làng Ba Na dọc hai bờ sông Đăk Bla đã vào đạo như làng KonRờBàng, KonM'nai, ChưHreng …Năm 1885, để tiện việc chăm sóc giáo dân, Nguyễn Do tập hợp một số làng nhỏ dọc bờ Nam sông Đăk Bla lập làng PleiRơhai. Đây là đơn vị hành chính theo chế độ định cư đầu tiên để sau này cùng với những làng khác lập nên phố Kon Tum.

Năm Ất Dậu (1885) khi Đồng Khánh lên ngôi vua đã kịp thời ra đạo dụ lập đạo Kon Tum với vị quản đạo đầu tiên là Tôn Thất Toại. Khi Tôn Thất Toại nhậm chức quản đạo đã chiêu mộ dân ba tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định lên khai hoang, lập ấp nhằm tạo thế chính trị với giáo hội Kon Tum của linh mục Nguyễn Do. Đây là cuộc di dân của người Kinh đến Kon Tum lần thứ nhất.

Một số người Kinh khi đến Kon Tum đã bỏ đạo Phật theo Công giáo vì những lợi ích kinh tế, đã lập ra làng Tân Hương (còn gọi là làng Cây Mít, nay là phường Quyết thắng). Nhà thờ Tân Hương ra đời từ đó (1886).Về phía triều đình, quản đạo Tôn Thất Toại về sau đã lập ra làng Trung Lương. Ngay chính tên làng đã thể hiện ý thức chính trị của người Kinh định cư tại đây: “Trung là trung thành với vua và không theo đạo”. Hiện nay vết tích làng Trung Lương xưa kia chỉ còn lại đình Trung Lương.
     
Dưới thời của quản đạo Võ Vọng (1894), để mở rộng uy lực, quản đạo.  Ông đã cho phép ông Ngô Tư, Đặng Ngãi và hương sư Phùng Hiên lập ra làng Lương Khế. Đến năm 1914, Đình làng Lương Khế được xây dựng lên, khang trang, bề thế. Hiện nay, ngoài nơi thờ Thần làng, những người có công lập, xây dựng nên làng Lương Khế, đình còn điểm được nhân dân trong tỉnh tổ chức Lễ Giỗ tổ Hùng Vương hàng năm.

Sau đó, triều đình Huế bổ nhiệm ông Võ Chuẩn làm quản đạo Kon Tum. Ông Võ Chuẩn tiếp tục đứng ra mộ dân từ Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi… đến khai phá và định cư lập nên làng Võ Lâm tại vùng đất phía Bắc thành phố Kon Tum. Và ông cũng là người có công hô hào người dân xây dựng chùa Bác Ái (1932) thờ Phật giáo theo phái “Cổ Sơn Môn”. Dân chúng qui tụ đến nơi đây ngày càng đông đã lập nên đình làng, trường học, tức đình Võ Lâm bên cạnh Chùa Bác Ái ngày nay.

Với những làng Tân Hương, Trung Lương, Lương Khế, Võ Lâm…đã lập nên phố Kon Tum. Dù địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn nhưng bù lại thiên nhiên giàu có, những rừng gỗ nguyên sinh bạt ngàn, vô vàn sản vật quý hiếm: Sa nhân, sâm rừng, thú quý…đã thu hút người Kinh từ vùng duyên hải Miền Trung tìm đến vùng Kon Tum tụ cư làm ăn sinh sống.

Năm 1892, người Pháp đã thành lập Tòa Đại lý hành chính Kon Tum, đến ngày 9/2/1913 chính thức thành lập tỉnh Kon Tum.

Mặc dù ra đời sớm nhất Tây Nguyên (Đà Lạt được Yersin tìm ra năm 1893; Ban Mê Thuột được thành lập năm 1923; Pleiku năm 1932) nhưng Kon Tum vẫn không phát triển bằng các vùng khác bởi có dòng Đăk Bla chia cắt đôi bờ Nam - Bắc. Việc vận chuyển hàng hóa vào Phố Kon Tum phải đi bằng đò, bè nên  không dễ dàng lưu thông. Mãi đến năm 1935, một người Pháp có tên là Molini đã tiến hành xây dựng cầu bằng bê tông cốt sắt. Năm 1940 cây cầu hoàn thành, người dân gọi là cầu Molini. Đến năm 1956, Ngô Đình Diệm cho xây dựng lại cầu mới và đặt tên là cầu Đăk Bla - tên của dòng sông, cửa ngõ phía Nam vào Thành phố ngày nay.

Vậy có thể nói rằng, lịch sử lập phố ở Kon Tum gắn liền với thời điểm xuất hiện của cộng đồng người Kinh. Địa thế lại nằm trong một vùng thung lũng rộng lớn, lại có dòng sông Đăk Bla thơ mộng như dải lụa mềm vắt qua thành phố. Vì vậy phố cổ Kon Tum mang những nét của một đô thị đồng bằng hơn là phố núi.

Phố Kon Tum đã và đang xây dựng đàng hoàng, khang trang, hiện đại hơn. Ngày nay đến với Kon Tum thật dễ dàng vì đường xá thuận tiện: Quốc lộ 14 (Đường Hồ Chí Minh) là tuyến đường thứ hai song song với Quốc lộ 1A chạy từ Bắc đến Nam; Quốc lộ 24 nối Kon Tum với Quảng Ngãi…Nhưng đâu đó, trong lòng thành phố vẫn còn những ngôi nhà lợp ngói âm dương cổ kính rêu phong, tồn tại qua bao thế hệ, là chứng nhân lịch sử, gợi lên trong lòng người một nét gì đó rất xa - thửa con người bắt đầu lập phố.

Nhà Thờ Tân Hương vẫn còn đó. Chùa Tỉnh Hội (1896) đã hơn trăm năm vẫn đều đặn bước chân người dâng hương cúng Phật. Ngục Kon Tum với những tấm gương trung nghĩa mãi mãi ngân vang trong lịch sử đấu tranh hào hùng của cách mạng Việt Nam. Những làng Lương Khế, Trung Lương Võ Lâm… giờ đây chỉ còn trong ký ức các cụ già. Chúng đã thành những tên Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất…

Liệu mai này thế hệ trẻ Kon Tum, trong lúc ngược xuôi trên đường đời tấp nập. Hay đôi khi được thảnh thơi, thả bộ trên những con phố hiện đại, khang trang. Có bao giờ tự hỏi ngày ông cha đã từng lập làng dựng phố. Để bây giờ ta có phố nhỏ Kon Tum.

Theo Tường Lam (CTTĐT tỉnh Kontum)
Du lịch, GO!
Read More

Tản mạn về cà phê Sài Gòn

(Vneconomy) - Buổi sáng, ngồi với người bạn bên hiên một cửa hàng cà phê trên quận 1. Không gian đẹp, sofa đỏ êm ái, nội thất sang trọng, gian bên trong có máy lạnh, nhạc nền nhè nhẹ...

< Thưởng thức ly cà phê sáng là một cái thú đối với nhiều người ở Sàigòn.

Trước mặt bạn tôi, người phục vụ nhẹ nhàng đặt ly cà phê đá, đúng kiểu “cà phê Sài Gòn” (đậm đặc với nhiều đá) pha sẵn và cho tôi là tách cà phê sữa nóng pha phin. Mùi cà phê thơm ngào ngạt lan tỏa. Còn sớm, chưa đến 8 giờ, nhưng cửa hàng đã đông người...

Thời nào cũng đều có thú uống cà phê

Không biết cà phê chính thức du nhập vào Việt Nam từ khi nào, nhưng từ lâu rồi, cà phê đã trở thành thức uống quen dùng của người thành thị, với một số người khác, cà phê còn là thức uống không thể thiếu để mở đầu cho một ngày lao động. Riêng tôi đã làm quen với cà phê từ khi được cha mẹ “cho một tí vào ly sữa nóng buổi sáng cho thơm”... Tôi thích lắm và chỉ biết là “thơm thơm” thế thôi. Thời đó tôi khoảng 6 hay 7 tuổi, tính đến nay cũng được khoảng 5 thập kỷ.

Ngày tôi còn học tiểu học, khoảng thập niên 60, chưa có nhiều quán cà phê như bây giờ. Chỉ có những tiệm nước (tên gọi các quán hủ tíu mì của người Hoa có bán cả cà phê), hiếm thấy người Việt kinh doanh mặt hàng này. Thường các gia đình công chức mua cà phê về, tự pha phin (phin đọc theo âm tiếng Pháp của từ filtre có nghĩa là cái lọc) uống và dùng điểm tâm tại nhà trước khi đi làm việc.

Thời đó, tiệm tạp hóa nào cũng có bán cà phê và nơi nào cũng trang bị máy xay chạy bằng điện. Khách hàng thường mua 1 hay 2 lạng, người bán xúc cà phê hạt cho vào túi giấy, cân đủ rồi mới cho cà phê vào máy xay, mùi cà phê tỏa ra thơm bát ngát. Tôi còn nhớ có nhiều nhãn hàng như Meilleur Gout, Moka... nhưng nhà tôi hay mua cà phê J.Martin.

Thích thú nhất phải kể đến những kỳ nghỉ được về chơi nhà ông bà ngoại. Ông bà ngoại tôi sống trong con hẻm trên đường Trần Hưng Đạo, quận 1. Từ con hẻm này nhiều ngõ ăn thông qua các đường Cô Giang - Cô Bắc, Cầu Ông Lãnh.

Buổi sáng ông dắt tôi ra để tôi ngồi trong tiệm nước đối diện nơi bà tôi bán đồ hàng bông (thời đó gọi chung rau củ quả như thế), lấy cái bánh tiêu nhét một viên xíu mại vào cho tôi ăn. Ăn xong, ông tôi gọi gì đó và tôi nghe anh chàng phổ ky (chạy bàn) người Hoa hô lớn “phé nại” và liền sau đó mang ra cốc cà phê sữa nóng, đặt trên một cái đĩa nhỏ, cả cốc và đĩa đều bằng sành đã nhuốm màu thời gian, đĩa thì mẻ miệng, cốc thì trầy sướt...

Người Pháp uống cà phê theo cách pha phin, người Hoa có cách pha chế bằng vợt, pha xong cà phê vẫn được để trong cái siêu đất, luôn đặt trên bếp than, nên còn được gọi là cà phê “kho”. Cà phê pha vợt không đậm đặc như cà phê phin nhưng ưu điểm là luôn nóng bốc khói. Uống vào lúc sáng sớm hay khi trời se lạnh là tuyệt vời.

Khách gọi cà phê, họ lấy cái cốc sành tráng sơ qua nước nóng để giữ nhiệt, cho một muỗng đường nhỏ hoặc sữa đặc có đường, tùy theo ý khách gọi, họ có cách rót cà phê rất đặc biệt, dơ cao cái siêu lên và rót cà phê mạnh vào cốc, và với cách rót như thế, lực đủ mạnh để đường hoặc sữa tan một phần, và có thể vì dòng cà phê rơi mạnh từ trên cao xuống nên bao giờ cà phê cũng tràn miệng cốc, ra ngoài đĩa luôn.

Người Hoa còn có một điểm đặc biệt nữa là luôn chọn địa điểm nơi các góc đường có ngã 3, ngã 4 để mở tiệm nước. Và cách họ kinh doanh cũng đáng nghiên cứu: không cần lãi nhiều và bán giá phải chăng nên tiệm nào cũng luôn đông khách, thu hút cả khách sang lẫn người lao động chân tay. Bây giờ chỉ còn gặp những điểm bán cà phê pha vợt tại các khu chợ đầu mối, những khu lao động dân cư hoạt động về khuya.

Tuy không đậm đặc như cà phê phin nhưng khi đến tay khách ly cà phê pha vợt vẫn còn bốc khói nghi ngút. Và, hãy tưởng tượng cảm giác, tớp một ngụm cà phê nóng vào giấc khuya hay những lúc trời se lạnh, thật không gì tuyệt vời hơn!

Đến thập niên 70, ở ngưỡng cửa đại học, chúng tôi đã biết thưởng thức thế nào là cà phê ngon. Vào những hôm có tiền, thay cho cà phê căng tin trường “hơi bị nhạt”, tôi và các bạn đến các quán cà phê có nhạc. Từ cổng Trường Văn khoa Sài Gòn, ngày đó đi xuôi chiều đường Đinh Tiên Hoàng có nhiều quán cà phê như: Hân, Tre, Hồng, Duyên Anh... Cùng kinh doanh một mặt hàng, nhưng hương vị cà phê của mỗi quán đều có nét rất riêng: cà phê của quán Hồng có hương vị ca cao; cà phê của quán Hân thật đậm đặc, từng giọt đặc quánh chầm chậm nhỏ xuống đáy tách, có khi phải gần 10 phút mới xuống hết phin...

Hiện đại nhưng vẫn không thể mất truyền thống

Thập niên 80, nổi bật với cà phê vỉa hè, không phải vì ngon mà vì rẻ tiền. Thời kỳ này đất nước còn khó khăn, các quán cà phê mọc lên khắp nơi. Trong nhà, và cả trên các vỉa hè, đường chính đường phụ gì có tất. Chỉ với một cây dù lớn che tạm nắng mưa, vài cái bàn nhỏ với vài ba cái ghế gỗ là thành quán cà phê. Giá bán ở đây: cà phê đen: 1 đồng; cà phê sữa nóng 1,5 đồng; cà phê đá: 1,5 đồng; cà phê sữa đá: 2 đồng. Nổi tiếng phải kể đến khu cà phê nơi góc Lý Tự Trọng – Nguyễn Trung Trực – quận 1.

Khách hàng là công nhân; công nhân viên chức các xí nghiệp; dân mua bán các khu chợ lân cận như: Intershop; Bến Thành, khu Tạ Thu Thâu (chuyên mua bán quần áo, mỹ phẩm từ nước ngoài gửi về), khu kim khí điện máy Huỳnh Thúc Kháng; khu thuốc Tây Lê Thánh Tôn – Trương Định... Trong khi người sành điệu thời đó lại chuộng các quán cà phê như: Lữ Quán; Trang Đài; Lan Phương trên đường Lê Lợi hơn.

Theo họ, các quán vỉa hè bán cà phê pha tạp nhiều quá, độ đậm đặc thì có, nhưng khi đưa ly cà phê đá ngược ánh sáng chỉ thấy toàn một màu đen tuyền, trái lại nếu là cà phê nguyên chất, loại ngon, ly cà phê sẽ có màu nâu cánh gián rất đẹp. Đến với các quán cà phê dọc đường Lê Lợi, ngoài cà phê ngon còn được thưởng thức những bản nhạc hòa tấu bất hủ qua đĩa nhựa của các nhạc trưởng Paul Mauriat; Frank Pourcel... và đương nhiên giá cà phê cũng đắt gấp đôi gấp ba. Vâng, tiền nào của nấy!

Từ giữa những năm 90 đến nay, khi xã hội Việt Nam phát triển theo hướng tích cực và những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm được nhắc đến nhiều, không còn thấy những quán cà phê nhếch nhác trên vỉa hè.

Dù đã có sự xuất hiện của nhiều loại thức uống giải khát tiện dụng có nguồn gốc từ thiên nhiên, hay các sản phẩm công nghiệp như cà phê hòa tan, cà phê 3 trong 1, cà phê đóng lon..., nhưng pha cà phê theo cách truyền thống vẫn có một chỗ đứng quan trọng trong văn hóa giải khát của người thành phố. Duy nhất có chút thay đổi, là yêu cầu của người dân, nhất là giới trẻ của thế kỷ 21, ngày càng cao và họ luôn khao khát những kiểu thưởng thức cà phê mới. Cà phê ngon, chỗ ngồi thoải mái, không gian lịch sự, trang trí sang trọng, cung cách phục vụ chuyên nghiệp, có wi-fi... từ nhiều năm nay đã trở thành những tiêu chí cần và đủ của người thành phố mỗi khi đi uống cà phê.

Như để đáp ứng xu hướng mới này, hiện nay tại các vị trí đẹp của các khu trung tâm, các tòa cao ốc văn phòng đều đã biết tận dụng lợi thế của mặt bằng tầng trệt để mở những cửa hàng cà phê cao cấp như: Highlands; Terrace; Central; Gloria Jeans; Coffee & Bean; Illy; NYDC; Mori Deli; Napoli; Soho; Garden View; SH Garden; Windows... bên cạnh cà phê phin, họ còn phục vụ cà phê theo phong cách châu Âu, châu Mỹ, có nơi khách vẫn được phục vụ tại bàn, nơi khác khách tự phục vụ theo đúng phong cách Tây phương.

Ngoài thức uống truyền thống các nơi này còn giới thiệu thêm cà phê pha chế theo kiểu Ý, kiểu Mỹ như: Capuchino; Espressio; Latte... phục vụ dân văn phòng năng động.

Còn với các bạn có quan niệm “cốc cà phê không chỉ đơn thuần là thức uống giải khát mà còn là sự lãng mạn, là sự lắng đọng” thì đã có các quán cà phê sân vườn với phong cách trang trí tuyệt vời như Thềm Xưa; Cõi Riêng; Miền Đồng Thảo, Lối Về... nơi mà khoảng trống sân vườn được chủ nhân đặc biệt chăm chút với hoa cỏ, cây cảnh, hồ sen, thác nước cách điệu... tạo cảm giác êm đềm, tĩnh lặng để bạn có thể, trong một khoảng thời gian nào đó, tìm đến tạm lánh xa sự ồn ào náo nhiệt của phố phường.

Theo Vneconomy.vn
Du lịch, GO!
Read More

Phượt tìm thầy lang...

Khá nhiều bạn gởi mail đến hộp thư diengiadung gờ meo của mình thắc mắc rằng 'vì sao lúc này anh D ít phượt xa ' hay 'bao giờ mới có chuyến khám phá mới'... ; Thắc mắc cũng phải thôi vì mãi chỉ thấy những bài post trích lên, những chuyến đi gần kèm với các cái hẹn lần lữa, còn vì sao thì...

Có lẽ đã tạm qua rồi cái thuở mà tháng nào ta cũng lên kế hoạch, đã hết cái thời mà hàng năm có gần mươi chuyến khám phá những chốn hoang sơ, cũng không còn cái lúc blog liên tục 'liệt' vài ngày vì mình thông báo trước là 'vào chuyến đi' và sau đó là hàng loạt bài được đưa lên để giúp bạn giải khuây hay làm chút kinh nghiệm cho những người có máu ham bò lết đây đó...
Vậy nhưng, giờ đây ta cứ mãi nằm nhà và gõ bàn phím! Chán rồi chăng?

Thú thật, cái ham muốn lang thang của bọn mình vẫn tràn đầy; khoái đi lắm chứ? Kinh phí dành cho phượt cũng không nhiều, chỉ cần nhín nhịn đôi chút trong tháng là góp đủ để 'làm một chuyến xa'. Vậy nhưng Trời không thuận lòng người, dạo này sức khỏe mình kém, căn bệnh dạ dày thuở nào tái lại và làm mất sức. Thi thoảng lại phát các bệnh linh tinh: ở nhà đôi lúc đã mệt rồi thì lấy sức đâu mà leo ngựa sắt, chở 'nửa kia' cùng hành lý cồng kềnh vượt vài trăm cây số ngày... với các chuyến khám phá xa hàng ngàn kilomét trong vài ba bữa hay thậm chí cả tuần?

Sắp vào chuyến phượt thật, ngay trong vài ngày tới. Tuy nhiên, đây sẽ là phượt... bệnh viện bạn ơi. Xế hỏng thì ta sửa để đi xa còn 'ta hỏng' thì chỉ có nước đến thày lang - 'Bộ đồ lòng' mạnh phẻ, lực dồi dào tương đối thì mới có sức 'bò lung tung' được vì mỗi chuyến lang thang cũng là mỗi lần vắt kiệt sức lực trong khi lòng đam mê và sự kiên nhẫn mình vẫn có thừa.

Thôi thì đời ta như thế, tạm gác lại chuyện linh tinh và trực chỉ đến bác sĩ, hi hi. Phượt lung tung các chốn hoang vắng không bóng người, mình chả chút ngại ngần nhưng BV thì 'ngán' pà kố! Sợ cái chờ đợi mỏi mòn khi lấy số, thăm khám, xét nghiệm (chả là BV Đại học Y dược hay nói chung các BV trong thành phố bao giờ cũng quá tải mà)... nhưng ngán nhất là bệnh 'dây dưa, kéo dài như... con nưa' mà hổng chịu dứt. Giá như dân phượt ta có tía nào là bác sĩ BV thì xin cho phượt quèn này... kết giao bằng hữu, chỉ để giảm khổ và có thể lạc quan hơn nhỉ, hi hi.

Số ta như vậy, cần tân trang lại cái... xác phàm cho dù cái tinh thần vẫn hùng hục đầy lửa như xưa, lửa nhiều nhưng nó chả lôi được cái thân bò lê lết thì đành chịu. Sức khỏe không 'tậu' được, mà có mua được thì giá trời biển, chỉ dành cho đại gia. Vậy nên không lạ do trước giờ, Điền Gia Dũng mình hay 'chúc phẻ' với bạn (cuộc đời mình có rất nhiều năm, nhiều dịp liên tục gắn liền với... bịnh viện mà, he he). Hẹn sau khi 'phẻ' sẽ làm những chuyến 'ra trò' chứ không chỉ lang thang các vùng ngoại ô, bạn nhỡ?

Vài dòng bá láp, cũng là để cho bạn biết 'vì sao' dạo này... 'chỉ xạo'.
Chúc bạn... phẻ.

ĐGD - Dulichgo
Read More

Núi bà Hỏa ở Quy Nhơn

(BĐFFC) - Dân Quy Nhơn hẳn ai cũng biết có 1 cái núi nằm giữa thành phố, gọi là Núi Bà Hỏa, còn vì sao gọi là núi ấy thì cũng ít người biết.

Lũ trẻ xóm Chùa Đồng Tiến chúng tôi chỉ biết đó là nơi mà chiều chiều, nếu không ra sân bay chơi thì còn 1 cái thú khác nữa là … leo núi.

Cái núi mà tôi đang nói tới là một ngọn núi thấp thấp thấp ngay sau lưng xóm, chỗ mà có cái bể nước, nơi mà leo lên tới đó thì sẽ thấy phần Quy Nhơn giáp biển Đông và đầm Thị Nại. Còn muốn thấy cả thành phố Quy Nhơn bao gồm cả phía Cầu Đôi và xa hơn nữa thì phải leo cao hơn nữa, chỗ mà đứng ờ sân bay nhìn về phía núi thấy có con đường quân sự ngày xưa chạy vòng vèo qua đỉnh và có một trận địa pháo binh trên đỉnh.

< Núi Bà Hỏa nhìn từ đồi Ghềnh Ráng.

Thời nhỏ cũng ít khi chúng tôi lên tới đó, chỉ thỉnh thoảng thôi nên cái đỉnh có‘nhà máy nước” thì tôi leo là nhiều.

Nhà tôi khi ấy gần núi lắm. Thời chưa xây cái bể nước trên núi này thì hầu như núi này được bao phủ bởi cây bụi thấp thấp mà thôi và hầu như con đường để lên tới chỗ đó là leo từ dưới lên.
Nói như thế là bởi vì còn một con đường nữa, đi vòng qua xóm “Chuồng Gà” để đi lên, dọc theo đường suối chảy.

Nói là leo, thực chất cũng dễ đi chứ không khó, thời ấy thì chẳng có giày thể thao chuyên dụng hay cái gì khác, có thể là đi chân đất, có khi mang dép, vừa đi vừa bò, nếu đi hai ba đứa thì vừa leo vừa nói chuyện một lúc là lên tới đỉnh ngay.

Cũng lạ, thời đó chúng tôi hầu như chẳng biết sợ là gì, không sợ bẩn, không sợ té ngã, không sợ cây đè, gai móc, cái sợ duy nhất có lẽ là… rắn, nhưng thực ra là đi mãi cũng chẳng thấy con rắn nào nên cũng chẳng có cảm giác đó. Về sau mới biết, và ba tôi cũng kể nữa là ban ngày rắn nó không thấy và chỉ khi nào mình dẫm phải nó thì nó mới phản ứng lại. Ba tôi còn kể rằng, nếu bị rắn cắn thì bứt mấy nắm lá ngay gần chỗ đó rồi nhai nát, đắp vào chỗ cắn là không sao.

Cảm giác leo lên đỉnh núi và nhìn toàn cảnh mới tuyệt làm sao! Có thể thấy rõ mồn một cái sân bay cũ, toàn bộ thành phố Quy Nhơn hình cánh cung, eo nín thở, Gềnh rang, nhà thờ Nhọn ở phía xa xa với cái chóp nhọn của nó. Leo lên đó mới thấy có cái thú của việc quan sát từ trên cao vì bạn có thể nhìn và đoán những con đường, căn nhà, địa điểm quen thuộc. Cái cảm giác đó gần giống như chúng ta xem bản đồ trực tuyến qua Google Earth bây giờ vậy. Những gì bên dưới hầu như chẳng thay đổi gì, ấy vậy mà mỗi lần ngắm lại thấy tuyệt. Ngay dưới chân núi là một cái đầm nho nhỏ mà người dân hay gọi đó là Bàu Sen, bây giờ xây dựng thành một công viên sinh thái gì đó. Nhìn từ trên xuống cũng thấy đẹp lắm.

< Từ núi Bà Hỏa nhìn xuống Bàu Sen.

Cái thú vị thứ hai là ngắm mây, trời, biển với một tầm nhìn thật thoáng đãng, tha hồ cho ta thả trí tưởng tượng.

Đẹp nhất là những lúc trời quang đãng và nắng nhiều, sẽ thấy nước biển thật xanh, thật đẹp và tầm mắt rộng mở đến những hòn đảo nhỏ ngoài khơi, những con tàu từ từ tiến vào Cảng Quy Nhơn. Hay những buổi hoàng hôn khi nắng dần tắt, những đám mây từ từ trôi trong màu vang dịu làm phong phú thêm trí tưởng tượng, khi ấy những đám mây là đàn ngựa chiến, những gã khổng lồ, phù thủy hung bạo hay có khi là những căn nhà nhỏ trên thảo nguyên bao la…

Sau này về Quy Nhơn thì tôi chẳng có dịp leo lên đó lại, con đường từ Nguyễn Thái Học chạy theo xóm Chuồng gà dẫn lên núi giờ đã tráng nhựa và dọc theo con đường ấy cho tới đỉnh thì đã ken dày những nhà và nhà.

Được biết tỉnh Bình Định cũng đã có dự án xây dựng các khu nhà ở cao cấp, công viên sinh thái núi Bà Hỏa dọc theo sườn núi. Đây được cho là một hướng phát triển mới đem lại bộ mặt khác cho Quy Nhơn và tận dụng lợi thế về tầm nhìn đẹp của ngọn núi này. Chắc chắn điều đó không phải ngày một ngày hai mà có, nhưng tôi cứ mong thật mong sẽ đến ngày về thăm Quy Nhơn để tìm lại mình trên đỉnh núi Bà Hỏa ngày xưa.

Núi Vũng Chua - Quy Nhơn

Theo Bundooroo (Binhdinhffc.com)
Du lịch, GO!
Read More

Hoa ban tháng 3

Tháng ba, rừng Tây Nguyên hoa thắm đỏ, làng buôn vang tiếng chim múa hát. Tháng ba ở Tây Bắc, hoa ban lại nhuộm trắng lưng đồi, vách núi. Các thảm hoa trắng lô xô trên các đỉnh núi, nối dài thành những “thác” ban chảy tràn từ đỉnh núi qua các vách đá, rừng cây xuống sát mặt đất, mềm như dải lụa trắng hững hờ vắt ngang triền núi mời gọi du khách gần xa…

< Hoa ban nở trắng điểm tô mùa xuân ở Tây Bắc.

Nắng tháng ba ửng hồng, mềm mại mơn man đỉnh núi. Bình minh lên, nắng sớm thổi lui màn sương mờ mờ, nắng rọi xiên xiên trên những cánh hoa trắng ngần, rừng ban như cô gái ngoan gặp một lời trêu ghẹo của gã nắng si tình, đôi má bỗng ửng hồng e lệ.

Cây ban thân mộc, không mọc thẳng mà uốn khúc, chia cành phân nhánh. Cứ mỗi độ đông về, cây ban tự mình trút lá, dồn nhựa vào thân, đợi sang xuân ấm áp đâm chồi nảy lộc. Lá ban mọc cách, không xếp thành tán và không rậm rạp như các loài cây khác. Dù mọc trên đồi cỏ khô hay bám vào vách đá cheo leo, ban vẫn mang trong mình một sự sống bất diệt. Có hai loại ban là ban Trắng và ban đỏ, nhưng ban trắng chiếm đa số ở vùng này. Đầu tháng hai âm lịch là thời điểm hoa ban lác đác nở; rộ nhất và đẹp nhất là đầu tháng ba, đến đầu tháng tư thì hoa bắt đầu tàn.

Khắp rừng núi Tây Bắc, đâu đâu cũng chỉ thấy hoa ban. Ban nở trắng trời, trắng đất. Ban không nằm trong sân nhà, không che ngang mái hiên, không gần gũi, dung dị như đào, như mận mà thênh thang giữa đất trời. Từng chùm ban trắng bao phủ cả thung sâu, rồi lại leo vút lên cao bồng bềnh như mây vắt ngang đỉnh núi. Từng chum, từng chùm xòe cánh, điểm những chấm trắng muốt lên nền trời xanh thẳm ban trưa.

Những nụ hoa thon thon như búp tay người con gái dắt lối những kẻ tò mò lạc sâu vào giữa rừng hoa. Trên đầu, ngàn vạn cánh hoa rung rinh như ngàn vạn cánh bướm đang tỏa hương thơm ngào ngạt, quyến rũ. Dưới chân, ban rụng lớp lớp cánh, đậu cả bông xuống thảm cỏ xanh vẫn xòe cánh thắm, dịu dàng biết mấy.

Ban đẹp lắm, đẹp như người con gái Thái. Vẻ đẹp viên mãn, tròn đây; vẻ đẹp rực rỡ mà mộc mạc, khiêm nhường; vẻ đẹp hoang dại mà không kém phần quyến rũ.

Hoa ban hẳn có lý khi được người Thái coi là một trong những loại hoa biểu trưng cho tình yêu. Cũng giống như món xôi ngũ sắc có màu tím biểu trưng cho sự thủy chung, màu đỏ được ví như tình yêu sắt son, say mê, lãng mạn… nhưng sắc trắng của ban không chỉ là sự thuần khiết, nó còn mang trong mình hình ảnh của tình yêu sáng trong, không vụ lợi, toan tính, thứ tình yêu đích thực được vun vén từ những rung động trái tim, những xúc cảm chân thật.

Hoa ban cũng biểu tượng cho tình yêu thủy chung, vĩnh cửu. Dẫu tháng ba có gió Lào táp rát rạt, dẫu sương gió mỗi đêm mù mịt, ban cũng chỉ êm đềm tung lá khô xuống thảm cỏ, những cánh hoa vẫn lung linh trắng, tươi tắn lạ thường. Ấy phải chăng là tình yêu của người con gái Thái thuở nào, dẫu có bị rào cản, ngăn cấm đến thế nào vẫn không đổi khác.

Hoa ban gọi về cả những mùa màng bội thu. Năm nào ban nở rực rỡ thì năm ấy mùa màng hanh thông, trọn vẹn.

Hình như khi hoa ban nở trắng rừng thì những đợt mưa đầu mùa cũng chợt tới. Ban xà từ trên đỉnh núi, buông mình xuống những thung lũng ăm ắp nước đầy. Bà con lại hối hả gieo mạ, làm đất, đốt nương chuẩn bị cho mùa mới.

Đàn ông bình thản giục trâu bừa những thửa ruộng mới, phụ nữ lụi cụi be bờ dưới gốc ban trắng bình yên. Cái đẹp của hoa ban đến tự nhiên, khiến người ta tự nguyện yêu chân thành và da diết. Tháng ba, giữa lúc giao mùa, ngắm ban nở giữa đất trời Tây Bắc thấy hạnh phúc lạ thường.

Du lịch, GO!
Read More

Mimosa, con đèo mang tên loài hoa

(VnExpress) - Từng chùm hoa bung nở sắc vàng rực rỡ với hàng trăm cánh nhỏ li ti đã tạo nên một mùa xuân rất riêng cho thành phố cao nguyên.

< Hoa mimosa bung nở dưới nắng xuân rực rỡ.

Khi sắc vàng của dã quỳ nhạt dần là lúc mimosa lại khoác lên Đà Lạt màu áo mới. Cũng là màu vàng nhưng sắc hoa minosa không rực rỡ như dã quỳ mà mong manh, e ấp. Dù vậy, sức sống của mimosa rất bền bỉ bởi suốt từ cuối đông đến hết mùa xuân, hoa bung nở hết đợt này đến đợt khác, trong đó đẹp nhất vẫn là những tháng đầu năm.

< Mimosa khoe sắc bên đường.

Mimosa là cây thân gỗ, có nguồn gốc từ Australia và được đưa về trồng ở Đà Lạt từ những năm đầu xây dựng thành phố. Cây không chỉ cho tán mát mà còn cho hoa rất đẹp, hương thơm dịu nhẹ nên được trồng ngày càng nhiều ở các con đường trong thành phố Đà Lạt.

So với dã quỳ, du khách khó có thể chiêm ngưỡng một thảm vàng bát ngát phủ khắp các triền đồi, nhưng bù lại, cảm giác thoáng chốc lại bắt gặp màu hoa mimosa ẩn hiện trong từng tán thông reo hay những con ngõ nhỏ khiến lữ khách không khỏi nao lòng.

Hoa mimosa mọc thành chùm với hàng trăm cánh nhỏ li ti, tròn tựa hoa bồ công anh thu nhỏ. Trong khi đó, mặt dưới của lá có màu trắng bạc như phủ một lớp phấn trắng.


< Thấp thoáng sắc vàng quyến rũ mimosa trên con đèo cùng tên.

Lúc chưa vào mùa, mimosa nép mình bên đường trong màu xanh bạc nên ít người để ý, nhưng khi bung nở, trông vào chỉ thấy một màu vàng xuyên suốt của hoa khiến ai nấy ngang qua đều phải ngỡ ngàng. Và cứ thế sắc hoa vàng thấp thoáng từ trong ngõ nhỏ, phô sắc hai bên đường đến nhuộm vàng cả góc phố.

Với vẻ đẹp dịu dàng, thanh khiết, mimosa không chỉ là biểu tượng cho mùa xuân Đà Lạt, là cảm hứng sáng tác của nhiều văn nghệ sĩ khi dừng chân đến chốn này, mà còn được đặt cho tên một con đèo dẫn vào thành phố cao nguyên. Trải dài hơn 10 km từ chùa Tàu đến điểm bắt đầu lên đèo Phrenn, uốn lượn qua bao đồi núi quanh co, đèo Mimosa cũng là nơi loài hoa ấy được trồng nhiều nhất.

So với những khúc cua tay áo thót tim của đèo Prenn, đèo Mimosa "dịu dàng" hơn với nhiều điểm dừng chân ngoạn cảnh. Bắt đầu từ thác Prenn, con đường lượn xuống một vùng lũng thấp rồi vắt mình qua những đồi thông xanh trùng điệp. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt xuống phía thung lũng dưới chân đèo chập chờn sương trắng và thỏa sức ngắm sắc vàng mê mải của những hàng cây mimosa bung nở hai bên đường.

Dù được trồng trong thành phố hay giữa núi rừng ngoại ô, mimosa vẫn toát lên sức quyến rũ kỳ lạ với những chùm hoa vàng xen lẫn trong lớp lá cây màu bàng bạc. Phảng phất trong cơn gió se lạnh đầu xuân là hương thơm trong trẻo, chứa đầy hương vị núi rừng của mimosa Đà Lạt. Mùi thơm của Mimosa cũng rất đặc trưng, không giống bất cứ một hương thơm nào và không lẫn vào đâu được, nhẹ nhàng mà ngây ngất.

Trong thoáng chốc, hương thơm dịu nhẹ quyện với sắc vàng xuân ấm áp của mimosa như xua đi cái lạnh của núi rừng, để rồi chỉ còn trong lòng dâng trào một niềm say mê, thích thú với con đèo đẹp như chính tên của loài hoa mimosa ấy.

Từ đây, đèo Mimosa dẫn du khách đến với thành phố ngàn hoa quanh năm khoe sắc. Trong muôn vàn sắc hoa rực rỡ ấy, sắc vàng thanh khiết của mimosa vẫn có chỗ đứng riêng trong lòng những người yêu Đà Lạt. Và khi mùa xuân đến, người ta lại rủ nhau về với thành phố cao nguyên để chiêm ngưỡng sắc hoa mimosa quyến rũ.

Theo Vy An (VnExpress)
Du lịch, GO!
Read More

Sém chút là tiêu luôn!

Máy tính mình vừa đi tong cách nay vài ngày. Máy hư thì tậu cái khác, vấn đề đáng nói ở đây là dữ liệu trong ổ cứng có còn hay cũng 'teo' theo?

Mà mất thật: bệnh của máy mình không chỉ bộ nguồn (nguồn mình có sơ cua) mà còn liên quan đến mấy cái HDD trong có, cái thì chứa hệ điều hành lẫn hình ảnh, các ổ còn lại chứa toàn dữ liệu về những chuyến đi và hàng tỉ thứ khác.

Gần ngàn tấm ảnh của những ngày lang thang mồng 1 đến mồng 3... mà đáng lý ra nó sẽ tạo thành những bài tiếp theo của loạt bài 'Lang thang Sàigòn' mất tích do mình quên backup qua ổ khác sau khi đưa ảnh từ camera vào máy tính.

Những ảnh mà suốt trong vài ngày đầu năm, bọn mình đã dậy sớm rồi phóng xe đi thưởng ngoạn và thu vén, trong đó có những hình tại các điểm rất bình thường vùng ven nhưng lại thật độc đáo trong các chuyến đi ngắn lý thú giữa cái rét căm căm mấy ngày xuân. Xem rồi mới thấy vùng ngoại ô nhiều chốn đẹp lắm bạn ơi.

Đành vậy, Trời khiến nó teo đúng lúc này. Thật tế cũng còn may mắn lắm vì mình cũng đã ráng moi ra trong cái ổ cứng hỏng đó mấy mươi ngàn tấm ảnh của các chuyến đi từ trước đến nay... mà chỉ suýt tý nữa là mất sạch sành sanh (he he).

Hiện giờ đang xài con máy mới. À, thật ra là nguyên bộ mới. Cái này màn hình 17' to hơn cái cũ, xem ra đỡ cho con mắt sắp lòi tròng. Còn bộ máy và cả màn hình LCD cũ, mình sẽ vất cái ổ cứng hư đi, cài Windows vào ổ còn lại... rồi chờ gặp được các nhóm thu gom máy cũ dành cho các trường nghèo vùng cao thì mình sẽ tặng - tu sửa tốt, nó vẫn còn chạy dăm năm nữa đó chứ.

Tết này chả có tý gì gọi là 'tết' ở nhà, chỉ rặt những nỗi lo. Vậy nhưng tất cả rồi cũng qua đi và ta cứ hướng về phía trước mà tiến bước. Mong ra Trời cho bình yên để bọn mình lại có những ngày khởi hành đến mọi miền đất nước. Cũng mong rằng một năm mới an khang hạnh phúc sẽ đến với tất cả các bạn.

Điền Gia Dũng
Du lịch, GO!

TB: máy mới thật nhưng mình còn nhiều việc phải làm với nó lắm, nhất là những thiết lập, cài đặt... và lấy dữ liệu còn lại từ HDD cũ. Vậy nên những comment thắc mắc có lẽ mình sẽ phải chậm trả lời nếu những câu hỏi không quá quan trọng, mong các bạn thông cảm.
Read More

Nhà tôi ở Trường Sa...

(LĐO) - Khi xuồng đưa đoàn công tác tới gần cầu tàu thị trấn Trường Sa, chúng tôi có cảm giác như được trở về nhà. Ngay khi tiếng còi tàu HQ 571 kéo lên, rất đông chiến sĩ, người dân đã đứng chật cầu tàu vẫy tay chào đón. Tay bắt mặt mừng, ông Phạm Xuân Hoà - Chủ tịch thị trấn Trường Sa Lớn - hỏi, nhà em ở đâu? Như một phản xạ, tôi buột miệng: “Nhà tôi ở Trường Sa!”.

Nét văn hoá riêng ở Trường Sa

Quả thật, Trường Sa gần gụi như ở nhà tôi vậy. Tới thị trấn Trường Sa, chúng tôi có cảm giác đang ở một thị trấn trong đất liền. Ở đây, đâu đâu cũng bắt gặp màu đỏ ấm áp của những mái ngói khu dân cư và những công trình hiện đại như khách sạn Thủ Đô đầy đủ tiện nghi.

UBND và trường mầm non, trường tiểu học thị trấn Trường Sa được xây dựng rất khang trang, sống động với hình ảnh học sinh cắp sách tới trường và cả tiếng gà văng vẳng... Từ cầu tàu quy mô và hoành tráng đi thẳng vào thị trấn là chùa Trường Sa Lớn, đối diện chùa là nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, kế đó là đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, tất cả đều rất uy nghiêm...

Buổi sáng bình dị ở thị trấn đảo Trường Sa bắt đầu từ rất sớm với cảnh các cán bộ chiến sĩ cùng người dân tập thể dục, khiến chúng tôi cảm thấy rất quen thuộc, như vẫn bắt gặp đây đó trên phố phường đất liền. Điều thường nhật nhưng ấn tượng nhất ở đây là hình ảnh các cán bộ, chiến sĩ quân phục chỉnh tề đứng chào lá cờ tổ quốc in dấu trên bầu trời với lời thề quyết tâm giữ vững vùng biển đảo thiêng liêng của đất nước.

Và mỗi ngày mùng một, ngày rằm, các ngày lễ lớn của đất nước, các chiến sĩ, các hộ dân đều dành riêng một buổi để đi dâng hương tại nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, chùa Trường Sa Lớn... Chị Trúc Hà cho biết: “Đi dâng hương vào những ngày lễ tại thị trấn Trường Sa đã trở thành một thói quen của người dân cũng như các cán bộ, chiến sĩ.

Cuộc sống tại Trường Sa rất bình dị, ở đây tôi luôn có cảm giác như ở đất liền, các hộ dân sống với nhau hoà thuận và đoàn kết. Hầu như tất cả các hoạt động từ đi dâng hương, chuẩn bị tết, chúng tôi đều làm chung với nhau”.

Ở Trường Sa thiếu thốn là vậy, như các chiến sĩ vẫn sống hồn hậu, yêu đời. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ chơi đá bóng, bóng bàn hoặc trồng rau xanh, nuôi heo, nuôi gà để tăng gia sản xuất...

Trước khi trở lại tàu về đất liền, nhiều chiến sĩ nhờ chúng tôi nhắn lại với đất liền rằng: “Hãy cứ vững tâm. Với sự tiếp sức, hỗ trợ của đất liền, cán bộ, chiến sĩ Trường Sa bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ, tinh thần tự hào của dân tộc, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì chủ quyền biển đảo, phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc”.

Không xa đâu Trường Sa…
Trước chuyến hải trình tới huyện đảo Trường Sa, đại tá Ngô Mậu Bình - Phó Chủ nhiệm chính trị - Vùng 4 Hải quân - nói với chúng tôi: “Huyện đảo Trường Sa nhìn vào ban đêm, cả quần đảo rực sáng giữa biển đen hút mắt người, mỗi đảo trông như một phố thị phồn hoa, nhộn nhịp và đông đúc các hoạt động đánh bắt, trao đổi hàng hoá của ngư dân trên đảo và ngư dân các tỉnh ven biển miền Trung...”.

Trường Sa bây giờ đã rất gần gụi với đất liền. Hiện ở huyện đảo Trường Sa đã được lắp đặt 20 trạm phát điện với hàng trăm cột phong năng, hàng ngàn tấm pin năng lượng mặt trời, hàng ngàn đèn led chiếu sáng ngoài trời, cung cấp nguồn điện dồi dào cho khắp các đảo.

Cán bộ, chiến sĩ và người dân trên huyện đảo Trường Sa có thể sử dụng điện thoải mái vào việc dùng tủ lạnh, truyền hình, kết nối mạng Viettel 2G, hay gọi điện thoại nói chuyện với người thân... Ban đêm, nhìn từ tàu vào các đảo đều thấy sáng rực ánh đèn dọc bờ kè, soi sáng cả một vùng biển rộng trông như một góc phố của Vũng Tàu, hay Nha Trang...

Ông Phạm Xuân Hoà - Chủ tịch thị trấn Trường Sa Lớn - nói: “Cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên huyện đảo Trường Sa ngày càng chất lượng hơn, hiện đại hơn. Phát triển kinh tế biển đang được tập trung, đặc biệt là khai thác nguồn hải sản phong phú nhờ các phương tiện đánh bắt đầy đủ.

Ngoài kinh tế biển, huyện đảo Trường Sa đang phát triển dự án du lịch biển, du lịch sinh thái như bơi lặn tham quan, đi câu cá, câu bạch tuộc... Tại đảo Trường Sa Đông, diện tích được mở rộng và xây dựng khang trang.

Trung tá Nguyễn Ngọc Vinh - Chính trị viên đảo Trường Sa Đông - cho biết: “Cuộc sống trên đảo đầy đủ về cơ sở vật chất, đảo rất xanh với hơn 600 cây xanh như bàng ta, tra, bàng vuông, phong ba, dương... Trên đảo cũng nuôi rất nhiều heo, gia cầm phục vụ cải thiện đời sống”.

Không chỉ cán bộ, chiến sĩ trên đảo mà ngay ngư dân từ các tỉnh ven biển miền Trung cũng ngày càng yên tâm đánh bắt hải sản ở ngư trường truyền thống của mình. Tại đảo Đá Tây, Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghề cá đang phát triển mạnh, phục vụ cho hoạt động sản xuất, đánh bắt của ngư dân huyện Trường Sa và ngư dân các tỉnh ven biển miền Trung.

Từ nhiều năm qua, trung tâm này đã trở thành nơi cung ứng các dịch vụ cho tàu thuyền của ngư dân khi vào đảo như lương thực, nhiên liệu bằng giá trong đất liền tại thời điểm bán; nhận sửa chữa các tàu thuyền bị hư hỏng, cứu hộ cứu nạn trên biển khi nhận được tín hiệu yêu cầu (miễn phí tiền công); cấp nước ngọt miễn phí, tiếp nhận và sắp xếp nơi ăn ở cho bà con ngư dân khi đau ốm.

Ông Chu Minh Sơn - Trưởng BQL dịch vụ hậu cần đảo Đá Tây - cho biết: Trung tâm đã trở thành hậu phương vững chắc đối với hàng ngàn con tàu trên biển đảo Trường Sa, DK1, mỗi khi hết gạo, thiếu dầu hay máy móc tàu thuyền gặp sự cố rủi ro, con người ốm đau bệnh tật. Với một cơ ngơi hiện có là công trình đảo đồ sộ được xây dựng trên diện tích 3.000m2 gồm các khối nhà văn phòng, hội trường, trung tâm điều khiển...

Ông Sơn tin tưởng nơi này sẽ sớm trở thành một bến cảng phục vụ ngư dân, tiếp tục đưa trung tâm vươn xa ra các đảo phía bắc. Hiện trung tâm có 8 tàu dịch vụ và 1 bontông chứa dầu làm nhiệm vụ vận chuyển hàng từ đất liền, luân phiên trực canh trong lòng hồ đảo Đá Tây, sẵn sàng cho việc tuần tra, cứu hộ hàng hải...

Đội tàu làm nhiệm vụ bán hàng lưu động trên biển, hướng dẫn chuyển giao công nghệ câu cá ngừ đại dương và phương pháp bảo quản cá đảm bảo chất lượng cao đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ra thị trường ngoài nước. Có thể khẳng định bà con ngư dân vẫn kiên trì bám biển, đang khai thác nguồn tôm cá vô tận của ta trên biển đảo của ta. Và những đoàn thuyền luôn hiện diện trên khắp các vùng biển đảo Trường Sa là những cột mốc sống khẳng định chủ quyền biển đảo của tổ quốc.


Trường Sa đang ngày càng vững chãi, đẹp lên như những ngôi sao giữa biển. Những ngọn hải đăng đang được tiếp tục xây dựng sẽ tạo thành một hệ thống dẫn đường cho tàu bè qua lại. Những ngôi làng trên biển đang được mở rộng và hiện đại hoá, trẻ em Trường Sa đang trưởng thành từng ngày trong ước mơ đưa đất nước mạnh giàu từ biển...

Theo Hà Anh Chiến (báo Lao Động)
Du lịch, GO!
Read More

Về trong sương mù Tây Bắc

(NLĐ) - Nương theo câu thơ “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, tôi đã đến Tây Bắc trong những ngày cuối năm đầy sương mù và rực rỡ màu hoa cải. Đó không đơn giản chỉ là một chuyến du lịch mà còn là hành trình của cả một giấc mơ...

< Sương mù trên đỉnh Thung Khe - Hòa Bình.

Tây Bắc đón tôi bằng “dốc sương mù” trên đỉnh Thung Khe (thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình) – trạm dừng cho khách du lịch xuống ngắm… sương, “thưởng thức” cái lạnh của miền cao và nghỉ chân ăn ngô luộc, cơm lam thịt nướng.

< Người già miền cao, nhớ câu thơ của Tố Hữu: "Con nhớ mế lửa hồng soi tóc bạc..."

Tôi rất thích những bếp ngô vùng cao với lửa hồng ấm áp và mùi ngô thơm lựng, gợi nhớ câu thơ se sắt “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm – Một bếp lửa ấp iu nồng đượm – Cháu thương bà biết mấy nắng mưa…” trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt trong trang sách thưở nào. Tôi cũng đã từng dừng chân vào giữa sương khuya trên đường lên Hà Giang – Đông Bắc, mùi vị nước ngô ngọt mát ấy như vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ - cho những ký ức rất riêng về phương Bắc.

< Cơm lam trên đỉnh Thung Khe.

Có đi tôi mới hiểu rõ nhất những câu thơ đã được học từ thời cắp sách. Các thi sĩ, nhạc đã chọn đúng những cái tinh túy nhất của miền địa đầu Tổ Quốc, để những câu thơ mãi mãi khắc vào lòng người hình ảnh Tây Bắc là “mùa xuân hoa mơ hoa mận nở”, là “Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ - Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương…”.

< Khung cảnh Mai Châu rạng rỡ lúc nắng lên làm tan sương.

Tôi co ro trong lớp áo ấm dày, găng tay, mũ len nhưng vẫn hăng say đứng trong sương mù tận hưởng cảm giác ngất ngây giữa đất trời, một cảm giác hạnh phúc và bình yên đến vô biên không dễ gì có được giữa lòng phố thị.

< Hoa mận trắng Mộc Châu.

Ai đó đã từng nói rằng, khi ta đi càng nhiều thế giới sẽ càng thu hẹp lại. Với tôi, những chuyến đi còn là nối dài của giấc mơ. Ngày bé, những nơi địa đầu Tổ quốc cứ ngỡ là “vạn trường thiên lý”, cả đời có mơ cũng không bao giờ có thể đặt chân đến.

< Tây Bắc mùa xuân đẹp như tranh.

Quê tôi, có những người cả đời còn chưa bước chân ra khỏi cổng làng. “Lên thành phố” có khi còn không được huống gì là dặm trường đi tìm những giấc mơ...

< Và cánh đồng hoa cải...

Tôi nhớ mình đã hãnh diện đến rơi nước mắt khi đứng trên cột cờ Lũng Cú-Hà Giang; hạnh phúc trong ngần khi vừa đi vừa hát trong cái se lạnh của mù sương bình yên trên đỉnh Mã Pí Lèng; ngơ ngác như trẻ nhỏ giữa buổi chợ phiên Mèo Vạc – những điều lần đầu tiên trong đời được tận mắt chứng kiến, nhìn ngắm và say mê, rồi nhớ mãi không quên.

< ... làm say lòng khách phương xa.

Tây Bắc cũng vậy, dẫu rằng đường đến Mai Châu (tỉnh Hòa Bình), Mộc Châu “ mùa hoa cải” (tỉnh Sơn La) không đẹp, bằng phẳng và lãng mạn như đường lên Đông Bắc, nhưng núi đầu xuân đã kịp đón chúng tôi bằng những nụ hoa đào phơn phớt, những cánh đồng  cải trắng và cải vàng đẹp đến mê đắm lòng người.

< Đường đến cánh đồng hoa cải thơ mộng.

Có người trong nhóm đùa: “Sao mình siêng thế, cất công từ Nam ra Bắc, vượt đường xa lên núi chỉ để ngắm cải trắng, cải vàng?”. Nhưng người ta vẫn nói, hạnh phúc không phải là đích đến, mà đó là hành trình chinh phục và khám phá. Suốt chặng đường đến với mùa hoa cải Mộc Châu, lòng tôi cồn cào những cảm xúc khó tả. Hồi hộp, phấn khích, hạnh phúc, bình an trước chặng đường phía trước đầy những điều mới lạ, bất ngờ; được nhìn ngắm những miền đất mới, thẩm thấu những giá trị đậm bản sắc vùng miền, đến cả nắng và gió của miền sơn cước cũng khiến cho lòng người nhẹ nhàng, thanh thoát hơn.

< Về đây khi mái tóc còn xanh xanh - Về đây với ngày gió chiều lang thang...

Chúng tôi đi sâu vào phía những cánh đồng hoa cải vốn không dành cho khách du lịch, tận mắt chứng kiến một không gian bạt ngàn đã từng chỉ được được nhìn thấy trên những bức ảnh nghệ thuật về Mộc Châu đoạt những giải thưởng ảnh trong và ngoài nước. Được trò chuyện với “ông chủ vườn đào” vui tính, hiền lành. Và được “nhào” vào vườn hoa cải vàng rực trong nắng chiều thỏa thuê chụp ảnh...

< Mai Châu "mùa phơi váy".

Chúng tôi rời khỏi những vạt hoa cải làm say lòng người, không để lại gì ngoài những dấu chân và không mang theo gì ngoài những bức ảnh. Núi đẹp và bình yên như thiên thai. Càng đi nhiều, tôi càng nhận ra đất nước mình đẹp quá. Dải đất hình chữ S đầy những biến thiên, thăng trầm suốt chiều dài lịch sử; liên tục thiên tai và cuộc sống vẫn tiếp tục trải dài trong những vạn biến bất an. Thế nhưng, đất và người vẫn đẹp, vẫn rạng ngời những giá trị văn hóa vùng miền, vẫn là những “vùng đất diệu kỳ” cho những giấc mơ muốn được chinh phục, khám phá.

Tôi đã đi trong những giấc mơ của chính mình, để được cảm nhận rõ rệt nhất “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Nơi này, chúng tôi đã được vào thăm làng du lịch bản Lác, mặc những trang phục của đồng bào H’Mông, chia nhau chén rượu cần và trở về khi “ngón tay mình còn vương mùi nếp xôi”. Vẫn nhớ sao là nhớ những ngõ phố lạnh sớm mai, nụ cười của núi và những đôi mắt miền cao thăm thẳm…

Đi, đôi khi không nhất thiết để phải “học một sàng khôn”, mà đôi lúc chỉ là để thấy lòng mình dịu dàng với đất trời…

Theo Tiểu Quyên (Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Read More