Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã xì trét. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã xì trét. Hiển thị tất cả bài đăng

Việt Nam tuyệt đẹp trong quảng cáo iPad Air

Apple vừa chiếu hai đoạn video quảng cáo iPad Air trên giờ vàng truyền hình Mỹ, trong đó có một đoạn video với nhiều hình ảnh Việt Nam hiện ra rất nên thơ và năng động.

Việt Nam nên thơ trong quảng cáo iPad AirViệt Nam nên thơ trong quảng cáo iPad Air

Hai đoạn quảng cáo được chiếu trên truyền hình Mỹ ngày hôm qua nằm trong chiến dịch marketing "Bài thơ của bạn". Chiến dịch này được Apple khởi xướng từ tháng Giêng năm nay bằng một quảng cáo trích đoạn từ vở kịch do Robin Williams thủ vai. Trong vở kịch này, Williams đã nói một câu: "Cuộc chơi vẫn tiếp diễn và bạn sẽ sáng tác một bài thơ. Bài thơ của bạn là gì?"
Như để trả lời cho câu hỏi nói trên, Apple hôm qua đã đăng tải hai clip quảng cáo mới rất "nên thơ". Trong hai đoạn quảng cáo này, người dẫn chuyện không nói một lời. Thay vào đó, các đoạn nhạc cổ điển được phát du dương làm nền cho những hoạt động thường nhật của họ với chiếc iPad Air trên tay. Cũng giống như phần lớn các quảng cáo đã thực hiện từ trước đến nay, hai đoạn clip mới của Apple giống như một đoạn phim ngắn hơn là video quảng cáo. Đoạn phim thứ nhất nói về Esa Pekka Salonen - một nhà soạn nhạc kiêm chỉ huy dàn nhạc giao hưởng London. Salonen sử dụng iPad Air để soạn nhạc trong khi di chuyển từ nhà tới nơi làm việc.



Đoạn phim thứ hai nói về Cherie King, một người chuyên viết về những trải nghiệm du lịch vòng quanh thế giới. Cherie đã đi đến Việt Nam và Ma-rốc, sử dụng iPad Air chụp những tấm ảnh rất nên thơ với con trâu trên cánh đồng Bắc Bộ , những cánh buồm trên vịnh Hạ Long, và một Sài Gòn năng động với rất nhiều xe máy. Ngoài chụp ảnh, Cherie cũng sử dụng iPad Air để chuyển ngữ các đoạn hội thoại, gọi FaceTime và viết blog cá nhân.
Chiến dịch quảng cáo của Apple nhằm thúc đẩy doanh số của iPad sau một quý II không như ý. Trong quý II năm nay Apple đã bán được 16,4 triệu chiếc iPad. Đây là một con số mơ ước của nhiều hãng sản xuất máy tính bảng, nhưng lại là một sự thất vọng với Apple bởi quý II năm ngoái hãng này đã tiêu thụ được 19,5 triệu chiếc. iPad là nguồn thu lớn thứ hai của Apple sau iPhone, chiếm khoảng 1/5 tổng doanh thu của "Trái táo cắn dở". Kể từ tháng 6 năm ngoái, doanh số của iPad và iPad Mini đã giảm đều 4% một quý. Các nhà phân tích đều cho rằng Apple đã qua thời đỉnh cao với mức tăng trưởng quý 50% do vấp phải sự cạnh tranh ngày một khốc liệt trên thị trường máy tính bảng.
Hình ảnh Việt Nam trong clip quảng cáo của Apple thật nên thơ. Nhưng liệu vẻ đẹp này có giúp cho Apple thúc đẩy được doanh số iPad hay không lại là chuyện khác.
Read More

Vừ Già Pó lạc sang Pakistan: Trở về quê hương

(VTC) - Lúc xe dừng lại ở Khâu Vai, Pó nhảy xuống, nhìn ngắm cảnh vật xung quanh, thấy các con chạy đến đón, vẫn ngỡ như là một giấc mơ.

< Hành trình từ Việt Nam sang Pakistan của Vừ Già Pó xa xôi hơn ta nghĩ.

Kỳ 7 (Kỳ cuối): Giây phút bồi hồi ở Khâu Vai

Ở đồn cảnh sát, người ta xác minh “thánh phượt” Vừ Già Pó chỉ là người vô tình đi lạc và bị bắt, chứ không hề có bất cứ một ý định nào xấu. Bởi vậy, họ cũng đối xử khá thoải mái với anh. Pó được cảnh sát đưa đi chợ chơi, được mua nước uống, mua quần áo mới, ngày ăn 3 bữa đầy đủ.

Hàng ngày, Pó phải tiếp đón một lượng khách đến thăm khá dày đặc. Có những người mang theo cả đồ ăn, áo ấm đến cho anh, cũng có những người đến chụp ảnh, ghi chép một lúc rồi thở dài bỏ về. Mỗi người đều sử dụng một ngôn ngữ khác nhau để hỏi, nhưng Pó không thể hiểu, vì không ai có thể nói tiếng H’Mông được cả.

< Sau mấy tháng ở Pakistan và được đối xử tử tế, Pó đã mập lên trông thấy.

Cho đến lúc anh bập bẹ được một vài từ ngữ địa phương, thì ông trưởng đồn có lần đùa vui, ra hiệu là sẽ cưới vợ hai cho và lưu giữ lại Pakistan. Pó hoảng sợ chối đây đẩy, rồi anh òa khóc.

Hy vọng tìm về với vợ con tưởng chừng đã tắt ngấm, lại lóe lên khi 3 tháng sau, anh được gặp một người đàn ông có thái độ rất thân thiện. Ông ta mở máy tính, lần lượt chỉ cho anh xem những lá cờ, khi đến hình ảnh lá cờ Việt Nam, Pó nhận ra và rất phấn khích, anh lấy tay chỉ vào lá cờ, rồi lại chỉ vào mình. Người đàn ông có vẻ đã hiểu rõ câu chuyện, vỗ vai Pó và lặng lẽ rời khỏi buồng giam.

Nỗi xúc động dâng trào sau mấy năm xa cách, nay lại được nhìn thấy những hình ảnh của quê hương, nỗi nhớ gia đình, vợ con ùa về khiến Pó nghẹn lòng, anh ôm mặt khóc nức nở mấy ngày liền, chả thiết ăn cơm.

Rồi có một hôm, lại có mấy người lạ mặt đến thăm, họ chĩa máy quay vào anh, ra hiệu cho anh nói. Pó cũng chỉ biết nói bằng tiếng H’Mông: “Tôi là Vừ Già Pó ở Khâu Vai, Mèo Vạc, Hà Giang. Tôi không phải là người xấu, người buôn bán hay trộm cắp. Tôi bị bắt giam được 3 tháng rồi, giờ mong các bạn đưa tôi về biên giới Việt Nam để tôi trở về nuôi con cái và gia đình...”.

< Giây phút trở về quê hương.

Qua rất nhiều nỗ lực xác minh, cuối cùng tung tích “thánh phượt” cũng xác định rõ. Tháng 1/2014, Đại sứ quán Việt Nam đã có công hàm gửi Bộ ngoại giao Pakistan khẳng định người đang bị giam giữ tại đồn cảnh sát Zila Neelum là Vừ Già Pó, công dân Việt Nam, và sau đó tiến hành các thủ tục để đưa anh về nước.

Pó vẫn chưa hề biết tin là mình sắp được trở về quê hương, cho đến một ngày đầu tháng 5, vừa ăn sáng xong, thì anh được 2 cảnh sát vào giúp thu dọn đồ đạc, rồi họ đưa anh ra xe ô tô đi một mạch đến sân bay. Đó cũng là lần đầu tiên và duy nhất “thánh phượt” được đi máy bay.

Lúc quá cảnh ở Thái Lan, Vừ Già Pó vẫn không rõ mọi người đang đưa mình đi đâu. Trưa hôm sau, khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, bước ra khỏi cửa, Pó thấy 2 đồng chí an ninh sân bay đang chờ sẵn. Trông sắc phục, anh biết đó là những người Việt Nam. Biết mình đã được trở về quê hương, Pó xúc động gần như ngã quỵ.

< Vợ chồng anh đã được gặp lại nhau sau bao năm xa cách.

Mọi người dìu anh ra xe ô tô, chạy được một đoạn nữa, Pó thấy Ly Thị Lía đang đứng chờ mình. Người vợ hiền đã bỏ hết công việc đồng áng để xuống tận Hà Nội đón chồng trở về sau bao năm xa cách. Hai vợ chồng ôm chặt lấy nhau mừng mừng tủi tủi.

Lúc xe dừng lại ở Khâu Vai, Pó nhảy xuống, nhìn ngắm cảnh vật xung quanh mình, thấy các con chạy đến đón, vẫn ngỡ như là một giấc mơ. Anh ôm chầm lấy vợ con rồi kêu lên: “Đúng là vợ con của tôi đây rồi, quê hương của tôi đây rồi, nhà của tôi đây rồi”.

Nhiều người chứng kiến vì quá xúc động nên cũng òa khóc theo. Ai nấy đều chúc mừng cho sự trở về của anh sau cuộc hành trình đằng đẵng.


< Xúc động gặp lại những người thân thuộc.

Qua một ngày ở nhà, người đàn ông được mệnh danh là “thánh phượt” đã trở nên bình tĩnh hơn. Tuy nhiên, những lúc bạn bè, hàng xóm đến thăm hỏi, Pó vẫn chạy ra ôm chầm lấy họ khóc lớn, rồi thổn thức nhắc lại những kỷ niệm cũ của mình.

Trở về sau hành trình phiêu bạt gần 6000km, cả gia đình Pó đã được sum họp cùng nhau, ăn một bữa cơm ấm cúng. Ly Thị Lía sang nhà hàng xóm vay gạo, bắt thêm con gà về nấu cơm đãi chồng.

Được biết, vợ anh đã bán sạch gia tài để làm lộ phí đưa chồng trở về. Trong nhà không còn tài sản gì đáng giá, ruộng nương, bò đã bán hết, trước mắt anh sẽ phải đi làm thuê kiếm sống. Theo Pó, anh sẽ vay mượn, xoay xở bằng mọi cách để có tiền chuộc lại những tài sản mà vợ đã bán, để còn tính kế lâu dài.

< Vừ Già Pó: "Tôi sợ lắm rồi, giờ có cho vàng cũng không dám đi".

“Tôi cũng rất mong được chính quyền tạo mọi điều kiện cho tôi được làm việc, hỗ trợ cho tôi thóc cho tôi trồng trọt, con giống để tôi nuôi, để tôi được ổn định lại cuộc sống”, Pó nêu mong muốn của mình. Trước khi phóng viên chào tạm biệt anh để trở về Hà Nội, “thánh phượt” Vừ Già Pó chia sẻ thêm: “Tôi sợ lắm rồi, giờ có cho vàng cũng không bao giờ dám đi. May mà còn được gặp lại vợ con. Nhân đây tôi cũng muốn gửi lời cảnh báo tới tất cả những ai đang còn có ý định vượt biên sang Trung Quốc lao động chui. Ở đây dù có nghèo khổ vẫn là quê hương mình, nhà của mình”.

Câu chuyện phiêu lưu kỳ lạ của Vừ Già Pó quả thực đầy tình tiết ly kỳ, tưởng chừng như hoang đường. Biết bao khó khăn vất vả, gian nan, nhiều lúc ngã gục, anh vẫn tiếp tục đứng lên, chiến thắng mọi thử thách với một niềm tin sắt đá, rằng mình sẽ được đoàn tụ với vợ con, gia đình.

Hết
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7
Theo Hải Minh - VTC New

Du lịch, GO!
Read More

Vừ Già Pó: Bị giam cầm ở Kashmir

(VTC) - Pó không dám chạy trốn, đứng im cho những người lính trùm túi vải lên người rồi lôi đi.

Kỳ 6: Lạc vào vùng tranh chấp

Nhắc tới cuộc phiêu lưu kỳ lạ của “thánh phượt” Vừ Già Pó, nhiều người đã đặt câu hỏi: Làm thế nào mà anh có thể vượt qua dãy Himalaya sang tận Pakistan?. Tuy nhiên, khi tiếp xúc và được nghe câu chuyện mà Pó kể lại, vạch ra hành trình của mình, tôi biết là khi bắt đầu gặp dãy Himalaya, anh đã vòng xuống phía tây nam và băng qua đất nước Ấn Độ, trước khi lọt vào vùng chiến sự nóng bỏng Kashmir và bị bắt giữ.

Lúc nhìn thấy dãy núi cao hiểm trở phủ đầy tuyết trắng, anh cứ đi theo con đường nhỏ uốn lượn theo triền núi. Ngày hôm sau, Pó gặp 1 chiếc xe chở đầy hàng hóa, và họ đã cho anh đi nhờ dù không hề biết anh đang nói gì, muốn đi đến đâu.

Càng đi xa, “thánh phượt” càng thấy thời tiết ấm dần, rồi chuyển sang nóng, oi bức một cách khó tả. Và khi chiếc xe dừng lại ở một khu chợ lớn, mọi người xúm xít ra bốc dỡ hàng hóa, Pó nhảy xuống và không biết mình đang đi đâu về đâu. Anh lang thang được một lát, đi qua mấy con hẻm hun hút, thì gặp một dòng sông lớn.

< Anh đã gặp dãy Himalaya, Pó đi vòng qua Ấn Độ.

Pó thấy cảnh vật ở đây thật yên bình, những đứa trẻ đá bóng cười vang một góc, mấy cô thiếu nữ ngồi tám chuyện bên những tấm vải trải đủ các loại màu sắc, những ông già trông như những nhà hiền triết với chiếc khăn quấn thành những vòng tròn lớn quanh đầu như tổ ong tò mò nhìn “thánh phượt” chỉ trỏ, các bà nội trợ giặt giũ bên bờ sông, tất cả hòa vào giai điệu của hoàng hôn, yên ả.

Cũng đã mệt, anh khoan khoái nằm xuống bãi cỏ đánh một giấc, cho đến khi giật mình tỉnh dậy bởi những tiếng trống lúc xa lúc gần. Pó thấy đám đông túa ra, kê những tấm phản dài hướng về bờ sông. Trên đó, có những chiếc bàn gỗ nhỏ phủ vải vàng, người ta bày ra đó những vỏ ốc lớn, hoa, nến, bát hương và một tấm phù điêu có hình giống như đầu rắn hổ mang.

Đám đông bắt đầu vây xung quanh và đàn hát. Cách đó một đoạn ngắn, có những xác người bó gọn được đưa lên những đống củi dựng sẵn, rồi họ bắt đầu đốt. Dưới sức nóng của lửa, Pó đã ngửi thấy mùi tóc và mùi thịt cháy khét lẹt, đám đông thản nhiên nhảy múa, thả những vòng hoa được đan kết lại hay nến trôi theo dòng sông.

< Nghi lễ đốt xác ở Ấn Độ.

Pó lặng người sợ hãi, ù té chạy vào một con hẻm nhỏ ngồi im thin thít, không dám ngủ nữa. Kể chuyện với phóng viên VTC News, anh vẫn cho rằng đó là những thủ tục rùng rợn, và họ đốt xác “những con ma”. Pó không hề biết rằng mình đang được chứng kiến nghi lễ đốt xác, một nghi lễ tôn giáo của những người theo đạo Hindu.

“Thánh phượt” thao thức cho đến khi hửng sáng, đã thấy hàng trăm người xuống tắm và cầu nguyện ngay dưới bến sông, bên cạnh là rác và xác hoa cúng tan rữa trôi từ đêm qua, hàng ngàn con chim đen bay rợp trời, cả khúc sông ám mùi tử khí. Pó hoảng sợ chạy thật nhanh vào phố, cho tới khi lại bắt gặp một đám đông đang xúm xít, anh đi lẫn vào trong đó.

Và anh nhìn thấy cái “ô tô” dài khủng khiếp. “ Nó to hơn hẳn cái ô tô mà mình đã gặp ở Mèo Vạc, và dài hàng chục mét, thành từng đoạn ngắn nối với nhau, trên đó đông nghịt người. Họ ngồi ở trong ô tô không đủ chỗ, còn bám vào cả hai bên mà không sợ bị rơi, ngồi cả lên trên nóc, nói chung là hỗn loạn vô cùng”, Pó hồn nhiên cho biết.

Chỉ muốn thật nhanh thoát khỏi dòng sông ma quái mà mình đã nhìn thấy, “thánh phượt” cũng chen chân nhảy lên trên nóc “ô tô” kiếm một chỗ. Đến chiều tối, những người ngồi cùng chia cho anh ít bánh mỳ. Khi “ô tô” dừng xuống ga, Pó lại vạ vật nằm ngủ rồi đi xin ăn ở đó.

< Chiếc "ô tô" mà Vừ Già Pó đã miêu tả.

Cảm thấy phương tiện này có vẻ dễ đi, và tốc độ nhanh hơn nhiều so với cuốc bộ, những lần sau, “thánh phượt” lại trà trộn lên những chiếc “ô tô” mà mình đã gặp. Anh không hề biết rằng đang lạc dần lên phương bắc.

Đến lúc không thể đi bằng “ô tô” được nữa, Pó phải nhảy xuống đi bộ. Tháng 10 năm đó, khi đến vùng hoang mạc rộng lớn, thì cũng là lúc Pó bắt gặp những hàng rào thép gai dày đặc, những căn nhà đổ nát, nghe thấy tiếng súng nổ, từng đoàn lính và xe tăng xuất hiện bất thình lình.

"Họ lăm lăm tay súng trông rất đáng sợ, lúc đó tôi chỉ biết chạy đi thật xa, nhảy xuống một cái hố ẩn nấp, chờ đoàn xe đi khuất", Pó kể.

“Thánh phượt” tiếp tục lang thang ở khu vực đó cả tháng mà không hề biết rằng anh đã may mắn sống sót khi đang đi qua vùng đất Kashmir, khu vực đang có tranh chấp nảy lửa giữa Ấn Độ và Pakistan từ cuộc chiến tranh 1947 – 1948.

< Vừ Già Pó đã đến vùng tranh chấp Kashmir.

Đến sát biên giới thì Vừ Già Pó bị bắt giữ. Hôm đó, anh bất ngờ thấy xuất hiện trước mặt mình 4 người lính đeo súng ống to đùng, râu ria xồm xoàm. Pó không dám chạy trốn, đứng im cho những người lính trùm túi vải lên người rồi lôi đi. Họ đẩy anh vào một căn phòng biệt giam tối mịt.

Mấy ngày liên tiếp, cứ tờ mờ sáng, Pó lại được dẫn ra gặp một người đàn ông râu kẽm, có thêm mấy người lính đứng bên cạnh, trông có vẻ là chỉ huy. Pó hiểu là họ hỏi giấy tờ, hỏi ở đâu đến, nhưng anh không thể nói chuyện được vì ngôn ngữ bất đồng. Có lần cáu tiết vì không thể khai thác được gì, họ tát anh mấy cái rồi dọa bắn.

Khi được người viết hỏi cảm giác có sợ không, có nghĩ người ta sẽ bắn không thì Pó tặc lưỡi: “Mình rất sợ nhưng mình biết họ không bắn đâu. Mình không làm gì xấu cả. Mình chỉ đang đi về nhà thôi”.

< Vừ Già Pó: "Họ không bắn mình đâu, mình chỉ tìm đường về nhà thôi mà".

Không thể xác minh được nhân thân của Vừ Già Pó, họ tống anh lên xe thùng và chở thẳng đến đồn cảnh sát Zila Neelum, thị trấn Athmuqam, Pakistan, cách thủ đô Islamabad gần 1.000 km.

Từ lúc đó trở đi, “thánh phượt” không bị đánh thêm lần nào nữa, cũng không còn bị đói như khi đi đường. Những người cảnh sát đối xử tử tế, cho anh ăn đủ ba bữa mỗi ngày, mua áo ấm cho anh mặc.
Cho đến giờ, anh vẫn nhắc đến họ bằng cái tên trìu mến: “ông Pô Lít” (Police - PV)

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7
Theo Hải Minh - VTC New

Du lịch, GO!
Read More

Vừ Già Pó lạc sang Pakistan: Hốt phân bò ở Bangladesh

(VTC) - Vào bên trong, Vừ Già Pó thấy có thêm mấy thanh niên cũng đang cặm cụi nhặt từng đống phân bỏ vào sọt, họ không dùng cuốc xẻng.

Kỳ 5: Ở xứ sở không ăn thịt lợn, thịt bò

Theo lời Vừ Già Pó: "Khi đến vùng biên giới, cũng giống như ở Việt Nam thôi, có nhà cửa, ở đó có hàng rào, có những người lính mặc quân phục, cầm súng đứng gác”.
Lần đi từ Trung Quốc sang Myanmar, anh gặp một đồn biên phòng, xung quanh là núi cao hiểm trở, rừng rậm um tùm, Pó chờ đêm đến, rồi lặng lẽ trèo qua mấy quả núi để tìm sang vùng đất bên kia.

“Thánh phượt” Vừ Già Pó cứ ngỡ trèo qua núi là sẽ về đến quê hương mình, nhưng hóa ra không phải, anh lại tiếp tục cuộc hành trình rong ruổi.

Anh kể lại: “3 tháng đi khỏi xứ sở của những người đàn ông đầu trọc, mặc áo vàng và có chấm trên trán, tôi lại gặp một trại lính khác, tôi không thể đi vòng qua được, vì đó là 1 con sông to, lớn lắm, và họ án ngữ ngay chiếc cầu duy nhất bắc qua sông. Không biết làm cách nào khác, tôi đánh liều đến gặp họ”.

Pó cố nói với họ bằng tiếng của mình rằng mình phải đi về nhà, rồi ra ký hiệu, rồi vẽ những dãy núi liên tiếp nhau trên giấy, những người lính gác không nghe và bắt trói anh lại, lột sạch quần áo ra kiểm tra, giam ở đó 2 ngày.

Nhận thấy Vừ Già Pó không có mục đích gì xấu, không có giấy tờ, lại là người hiền lành chân chất, 2 ngày sau chỉ huy của đồn ra lệnh thả anh ra. Tuy nhiên, họ không cho anh đi theo con đường lớn phía trước mặt mà chỉ cho một con đường nhỏ bên tay phải, men theo sông. Pó cứ đi theo con đường nhỏ ấy.

Vào sâu trong nội địa, “thánh phượt” Vừ Già Pó nhận ra mình đã lạc vào một xứ sở lạ lùng khác.

Pó miêu tả: “Đó là một vùng đất bằng phẳng với những cánh đồng lúa mênh mang, người ở đó đông lắm, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều mặc những bộ quần áo dài trùm từ trên xuống dưới, dù thời tiết khá nóng. Phụ nữ thì quàng khăn che kín hết cả đầu, cả mặt, chỉ để lộ mỗi đôi mắt. Đàn ông cũng có người quấn khăn trên đầu. Mà da họ đen lắm, chỉ có mỗi hàm răng khi cười lên thấy trắng. Thỉnh thoảng tôi lại thấy cảnh họ đưa 2 tay lên trời, rồi quỳ thụp xuống vái lạy, nhưng không biết là vái lạy ai”.

Phóng viên đưa những hình ảnh về trang phục người hồi giáo, thêm cả một số ảnh chụp về nhà cửa, cuộc sống, sinh hoạt tại đất nước Bangladesh, “thánh phượt” chỉ vào một bức ảnh rồi kêu lên: “Đúng rồi, tôi đã ở đó”.


< Phóng viên đưa những bức ảnh về cuộc sống ở Bangladesh, Vừ Già Pó xác nhận đã từng ở đấy.

Anh bảo, ở đó có những thị trấn mà nhà cửa trông còn nghèo hơn cả nông thôn. Bằng chứng là những lần anh đi gặp phải khu ổ chuột, xập xệ, bẩn thỉu và dơ dáy, phải băng qua những gian hàng bán những chai nước ngọt phủ đầy bụi trên vỏ chai, những hộp bánh quá hạn, băng qua những con dê chỉ còn da bọc xương và những người nghèo khổ rách rưới.

Điều khác lạ là có những cô gái còn trẻ măng trong khu ổ chuột còn không thèm trùm khăn kín mặt, họ trang điểm thật đậm với lớp son phấn rẻ tiền, mặc những bộ quần áo hở hang và bắt đầu đứng uốn éo ngoài đường hoặc cửa phòng của mình, thấy có người lạ là níu kéo.

Bản thân “thánh phượt” cũng đã từng bị một cô gái hở bụng, trông có vẻ gầy gò ốm yếu, suy dinh dưỡng nhảy ra vồ lấy cánh tay anh lôi vào bên trong, nhưng anh dãy giụa thoát được, hoảng sợ chạy biến.

Pó vẫn đi xin ăn những khi bụng đói, nhưng ở xứ sở ấy không có cơm, nhiều người cho anh một loại bánh lạ được làm bằng bột gạo, và anh không hề thấy họ ăn thịt lợn.


< "Thánh phượt" đã từng đi qua những khu ổ chuột ở Bangladesh.

Vừ Già Pó tiếp tục lang thang được khoảng 2 tháng thì lại đến vùng đất của những người không ăn thịt bò. Ở đó, anh thấy mọi người nuôi bò chỉ để lấy sữa, và có vẻ rất yêu quý nó.

Có lần gõ cửa một gia đình ven đường, 3 người đàn ông to lớn xuất hiện, đoán biết là người vô gia cư, họ bắt anh trói chặt và ném chỏng quèo ở một góc tối. Pó không dám phản ứng vì trông ai cũng có vẻ to khỏe, phốp pháp.

Hôm sau, những người đàn ông ấy bắt “thánh phượt” phải đi hốt phân bò ở trang trại của họ. Vào bên trong, Pó thấy có thêm mấy thanh niên cũng đang cặm cụi nhặt từng đống phân bỏ vào sọt, không dùng cuốc xẻng. Pó cũng phải dùng tay để hốt.

“Hằng ngày người ta cho mình ăn, rồi mình hốt phân bò thôi. Nhà ấy nuôi nhiều bò lắm. Con nào cũng rất to. Mình chỉ đứng hơn lưng nó. Cái sừng của con bò cũng to, không giống như bò của người H'Mông đâu", Vừ Già Pó cho biết.

Được mấy ngày, những người đàn ông có việc phải đi vắng. “Thánh phượt” thấy họ nói chuyện với vợ, rồi chỉ chỉ về phía mình. Anh đoán là họ dặn dò phải trông chừng. Rồi nhân khi trời xẩm tối, lúc người phụ nữ đi cho bò ăn, Pó trèo tường thoát ra ngoài rồi chạy trốn. Đêm ấy, anh chạy ra khỏi làng, cho đến khi gặp một con đường lớn, hai bên không có nhà cửa, Pó mệt quá lăn ra ngủ thiếp đi ngay bên vệ đường.

< Anh đang kể về những ngày phải đi hốt phân bò.

Sáng tỉnh dậy, Pó chỉ biết đi về phía trước, lang thang khoảng 2 tháng sau, mặc dù đang ở giữa mùa hè nhưng “thánh phượt” vẫn thấy lạnh toát. Anh nhìn thấy một dãy núi rất cao, hùng vĩ và hiểm trở, sừng sững trước mắt. Hà Giang cũng có nhiều núi cao nhưng anh chưa từng gặp một ngọn núi nào cao như thế. Phía xa xa, một màu trắng toát từ trên đỉnh phủ xuống.

Biết mình không thể vượt qua được khi đoán chắc trên đó không có người ở, lại không có đồ ăn thức uống, Pó lại phải đi vòng về hướng tây nam, men theo một con đường uốn lượn phía dưới chân núi.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7
Theo Hải Minh - VTC New

Du lịch, GO!
Read More

Vừ Già Pó lạc sang Pakistan: Cuốc bộ qua Myanmar

(VTC) - xứ sở ấy, họ rất hiếu khách, coi người lạ đến nhà gõ cửa là một cái duyên, cho nên anh được ăn uống khá đầy đủ, lại được cho áo ấm để mặc.

Kỳ 4: Xứ sở lạ lùng

Kể lại câu chuyện với phóng viên VTC News, “thánh phượt” Vừ Già Pó tâm sự, trong suốt hành trình lưu lạc một mình, không ngày nào anh không nghĩ về vợ con, về gia đình, lấy đó làm động lực để có thể vượt qua những thời điểm khó khăn, khắc nghiệt nhất.
Từ lúc độc hành, càng đi, anh càng nhận ra là mình bị lạc. “Ở những vùng đã qua, tôi lần đầu nhìn thấy những con người mà cử chỉ, điệu bộ, cũng như cách ăn mặc của họ rất khác lạ.

Nhưng không lẽ quay trở lại. Tôi chỉ biết tiếp tục tiến theo con đường phía trước mặt mà không biết nó đang dẫn mình đến đâu”, Pó cho biết.

Đi khoảng 1 tháng nữa, anh biết trời đã vào cuối thu, đầu đông, bởi cảm giác có những trận gió lạnh, lá cây có chỗ bắt đầu vàng úa, và thỉnh thoảng lại có những cơn mưa rào rào bất chợt.

Ngôn ngữ bất đồng, nên khi gặp một người đàn bà bản địa đang gánh nước và hỏi đường về Khâu Vai, anh không làm cách nào để có thể miêu tả được quang cảnh ngôi nhà của mình, chỉ biết vẽ lên trên nền đất hình những dãy núi trải dài, liên tiếp nhau, rồi lấy tay chỉ chỉ lên đỉnh núi.

Như có vẻ hiểu được “tín hiệu” mà “thánh phượt” đưa ra, người đàn bà gật gật rồi lại chỉ thẳng về phía... mặt trời lặn. Lần này, chếch về hướng nam một chút.

Pó lại lầm lũi đi và qua tiếp 2 ngày sau, đúng như người đàn bà đã chỉ, anh gặp núi thật sự. Lần này, núi đá trống trơn xám xịt, trùng trùng điệp điệp, không có cây cối, chỉ thấy cỏ dại mọc lay lắt ven đường, có vẻ giống như cao nguyên đá Đồng Văn. “Thánh phượt” Vừ Già Pó cứ theo con đường lớn, leo đến quả núi thứ 3 thì trời cũng xẩm tối, cộng thêm mây đen kéo đến ùn ùn, mưa trút nước. Không còn cách nào khác, anh tạt vào một hang đá nằm nghỉ.

Do cả ngày không xin được cơm, bụng đói meo, Pó thao thức mãi không ngủ được. Nhớ đến vợ mình là Ly Thị Lía cùng các con nhỏ, nhớ cảnh 2 đứa con trai út chạy lon ton xuống triền dốc đón bố mỗi khi anh đi làm nương rẫy về, anh cứ chảy nước mắt, chỉ mong trời mau sáng, tạnh mưa để tiếp tục cuộc hành trình.


< Núi đá Mèo Vạc.

Tuy nhiên, đến lúc trời sáng mà trời vẫn mưa rào rào, nước lũ trên đỉnh núi theo dòng chảy xuống ầm ầm, Pó đành ở lại thêm ngày nữa trong hang.

Sáng sớm hôm thứ 3, mưa vẫn không giảm, nhưng cái bụng thì réo sôi ùng ục, cảm giác tứ chi bải hoải không còn sức. Vừa đói vừa rét không chịu nổi, “thánh phượt” đội mưa bò ra ngoài đường cái tìm đồ ăn, lê lết thêm được một quãng ngắn nữa thì anh ngất xỉu.

Tỉnh dậy, Pó thấy mình được quấn chăn kín mít, và đang nằm cạnh bếp lửa, trong căn nhà gỗ trống hoác, chỉ có 1 cái ti vi nhỏ, bộ bàn ghế và chiếc tủ đựng quần áo, sắp xếp rất ngăn nắp. Lát sau nghe tiếng mở cửa lịch xịch, một đôi vợ chồng còn trẻ bước vào. Nhìn thấy anh đã tỉnh, họ mỉm cười và bê lên bát cháo thịt còn bốc khói nghi ngút. Đã lâu rồi, Pó mới có cảm giác ăn ngon miệng đến như thế.

Qua giao tiếp bằng cử chỉ, Vừ Già Pó tạm hiểu là sau tạnh mưa, đôi vợ chồng ấy đi qua đường và thấy Pó nằm ngất xỉu. Sờ vào mũi biết anh còn sống, họ đã đưa về nhà.

Hôm sau, anh xin phép được khởi hành. Nhìn thấy bộ đồ trên người qua mấy tháng đã rách tơi tả như xơ mướp, trời cũng chuyển lập đông, đôi vợ chồng trẻ tặng anh cái quần bò và một chiếc áo ấm, ra hiệu bảo anh mặc vào. Quá xúc động, bất giác anh bật khóc và ôm chầm lấy cả 2 người.

< Anh vẫn giữ chiếc áo ấm được đôi vợ chồng trẻ tặng, như là một kỷ vật.

Ra khỏi nhà và đi tiếp mấy ngày nữa, “thánh phượt” mới biết mình đã lạc vào một xứ sở lạ lùng, mà như anh miêu tả : “Đàn bà ở đấy đeo nhiều vòng ở tay chân, đeo nhiều vòng ở cổ lắm, nên cổ nó dài quá, dài gấp đôi cổ người H’mông mình”.

“Đàn ông thì cũng quấn quần áo kín mít, quấn luôn cả khăn trên đầu. Nhưng tôi cũng thấy có rất nhiều ông không quấn khăn mà đầu cứ trọc lốc, có mấy cái chấm ở giữa trán, mặc áo màu vàng rộng thùng thình và cứ đi thành hàng thẳng, ngồi ven đường thì cũng thành một hàng, mỗi người cầm một cái bát cũng màu vàng...”, Pó cho biết.

Anh cười ngô nghê khi kể về những ngôi nhà mà anh vẫn thường xuyên gặp ở xứ sở ấy. Đó là những ngôi nhà cao, nhiều chỗ được xây lên rất mới, có cái màu trắng, có cái thì màu vàng óng ánh, nhưng cũng có cái trông rất cũ kỹ, ẩm mốc rêu phong, đặc điểm chung là tất cả đều có chóp nhọn hoắt, và trước cửa thì đều có những pho tượng được gọt đẽo với những hình thù, tư thế kỳ lạ.

Tôi biết, “thánh phượt” đã vượt qua biên giới Trung Quốc và phiêu bạt ở mảnh đất phật giáo Myanmar. Anh đang miêu tả về những ngôi chùa đã gặp trên đường, tả về sư sãi và cả tín ngưỡng phật giáo ở đây.

< Vừ Già Pó đã băng qua đất phật giáo Myanmar.

Và ở xứ sở ấy, họ rất hiếu khách, coi người lạ đến nhà gõ cửa là một cái duyên, nên suốt 3 tháng ròng rã lang thang trên đất Myanmar, cứ đi theo đường lớn, Pó ít khi phải nhịn đói. Bởi cứ mỗi lúc gõ cửa nhà dân ra hiệu xin cơm, thì anh đều được thết đãi tử tế. Nhà nghèo có rau thì dọn cơm rau, nhà giàu có thịt cá thì dọn ra thịt cá, chỉ vào nồi cơm và ra hiệu Pó ăn no bụng thì thôi. Họ còn cho anh quần áo để mặc đủ ấm trên hành trình đi về hướng tây, trong những ngày đông giá lạnh.

Không còn phải chịu cảnh đói rét, lại được ăn uống khá đầy đủ, cho nên anh dần dần có da có thịt trở lại, không như anh chàng còm nhom ốm yếu mấy tháng trước còn lao động khổ sai ở bên Trung Quốc nữa.

Và khi Pó nhìn thấy khắp nơi cây cối đâm chồi nảy lộc, xanh mơn mởn, có cả ánh nắng chan hòa trên đường đi, thỉnh thoảng lại có những cơn mưa phùn lất phất, thì anh biết mình đang ở giữa mùa xuân, và tiếp tục đi đến một xứ sở kỳ lạ khác...

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7
Theo Hải Minh - VTC New

Du lịch, GO!
Read More

Vừ Già Pó lạc sang Pakistan: Vạn lý độc hành

(VTC) - Đến một thị trấn, anh thấy những người phụ nữ mặc váy hở bụng, đàn ông mặc áo liền quần rộng thùng thình, buộc thành một cục to đùng trước bụng.

Kỳ 3: Lạc mất bạn đồng hành

Khi trốn thoát khỏi chủ lao động Trung Quốc và tách nhóm, Vừ Già Pó, Ly Mi Na, Và Mí Mua không còn giấy tờ, không tiền bạc, chỉ có bộ quần áo sờn rách, 3 anh em ra khỏi thị tứ rồi cứ thế nhắm phía rừng rậm thẳng tiến. Một phần vì sợ bị bọn chủ đi tìm và phát hiện nếu đi đường lớn, phần nữa là sợ bị công an bắt bỏ tù, cả nhóm xác định đi thật xa trong vùng hẻo lánh, rồi sẽ tìm cách hỏi đường về Việt Nam.

Đêm đến thì đốt lửa rồi thay phiên nhau canh gác để ngủ, hết lửa thì leo lên cây to nằm vắt vẻo, chờ sáng đi tiếp, mặc cho muỗi đốt. Đói thì chia nhau đi hái quả rừng, tìm những loại quả có hình thù hay màu sắc na ná như ổi, chuối, xoài... để ăn. Tuy nhiên, đi được khoảng nửa tuần trăng thì Và Mí Mua bị trúng độc, cả nhóm phải dừng lại trong rừng mất mấy ngày.

Pó kể lại, buổi trưa hôm đó lúc anh và Ly Mi Na hái được mấy quả ổi rừng, trở về điểm tập kết đã thấy Và Mí Mua ngồi dựa lưng vào gốc cây. Bên cạnh là mấy quả lạ vứt lăn lóc, đỏ au chín mọng, hình thù như quả táo Tàu. Đoán chắc bạn mình khát nước nên đã ăn và ngộ độc. Ly Mi Na móc họng, Và Mí Mua tức thì nôn ra mật xanh mật vàng. Lát sau anh ta tu hết chai nước, rồi lại nôn ọe. Cứ thế khoảng 4 lần, Và Mí Mua kiệt sức nằm im thin thít.

Hôm sau, Mua tỉnh dậy kêu mệt, rồi lăn đùng ra ốm. Không còn cách nào khác, Vừ Già Pó cùng Ly Mi Na phải ở lại chăm sóc bạn, bẻ cây, nhặt gỗ về dựng tạm một cái lán nhỏ giữa rừng. Hai anh em phân công nhiệm vụ, người lên rừng hái quả và đi tìm những cây thuốc theo kiến thức cổ truyền về chữa bệnh, người thì ra suối lấy nước, bắt cá và nghe ngóng tin tức. Phải mất cả tuần lễ, Và Mí Mua mới hoàn toàn khỏe mạnh, cả nhóm tiếp tục khởi hành, đi về hướng tây.


< Vừ Già Pó: "Lạc mất bạn, tôi vẫn tiếp tục hành trình với hy vọng tìm về với vợ con".

Ròng rã suốt mấy ngày trời, “thánh phượt” cùng bạn đồng hành ra khỏi rừng rậm lại gặp một thị trấn nhỏ. Điều khiến Pó nhớ nhất ở đây chính là việc anh nhìn thấy những người phụ nữ mặc váy, hở bụng, cổ đeo vòng vàng, đàn ông thì mặc áo liền quần rộng thùng thình, buộc thành một cục to đùng trước bụng, không giống như những người Trung Quốc mà anh thỉnh thoảng vẫn gặp.

Nghĩ chắc là đã an toàn, không sợ bị chủ truy bắt nữa, Pó cùng bạn đi vào thị trấn. Mọi người nhìn mấy thanh niên H’Mông với ánh mắt lạ lẫm như từ hành tinh khác xuống, xì xồ chỉ trỏ bàn tán. “Thánh phượt” đánh bạo đi vào một hàng cơm gần chợ, nói tiếng H’Mông: “Tôi là Vừ Già Pó ở Khâu Vai, tôi không phải người trộm cắp gì. Cho tôi xin cái gì ăn được để tôi đi về quê”. Thấy người ta tỏ vẻ không hiểu, Và Mí Mua có biết chút ít tiếng phổ thông, nhảy vào trọ trẹ nói, họ cũng lắc đầu.

“Có vẻ như chúng tôi đã đi quá xa, nên không ai nghe được tiếng H’Mông hay tiếng Việt nữa, chứ ở gần biên giới mà nói thì họ biết ngay”, Vừ Già Pó lắc đầu ngán ngẩm kể lại. Không còn cách nào khác, cả 3 thanh niên đứng ngay trước cửa hàng lấy tay chỉ vào nồi cơm, rồi chỉ vào mồm mình, chỉ xuống bụng. Như đã hiểu ra, người đàn bà bán quán thở dài có vẻ thương hại, múc cho 1 cái bát tô to đùng cơm trắng, chan thêm 1 ít nước xáo, rồi đưa cho Vừ Già Pó.

Suốt cả tháng trời chỉ ăn hoa quả và một ít cá, nay nhìn thấy cơm, cả nhóm nuốt nước miếng ừng ực, cúi đầu cảm ơn rồi bê tô cơm ngồi ngay góc chợ, bốc ăn ngấu nghiến. Ăn hết, cũng là lúc mà những người bản địa vây quanh đông nghịt. Có lẽ, họ không đoán nổi những thanh niên H’Mông này là ai, đi từ đâu đến.

“Thánh phượt” bỗng nghe thấy tiếng còi hú liên hồi, nhìn ra phía cổng chợ thấy có 1 chiếc xe ô tô đỗ xịch, trên xe có mấy người nhảy xuống, tay lăm lăm dùi cui điện, mặc đồng phục của công an Trung Quốc.

Giật mình đánh thót vì sợ bị bắt, không ai bảo ai, Pó cùng Ly Mi Na, Và Mí Mua vùng dậy chạy tán loạn, hòa lẫn vào đám đông. Anh chạy được một lúc, ngoảnh lại thì không thấy 2 người bạn đồng hành của mình ở đâu nữa, xung quanh toàn những người lạ mặt chỉ trỏ. Nghĩ hai người kia chắc đang ẩn nấp ở đâu đó, không thể đi xa được, Pó lang thang cho đến lúc nhìn thấy 1 miệng cống lớn, sẵn đang mệt mỏi, anh chui tọt vào đó, vừa để lẩn trốn, vừa đánh 1 giấc ngủ ngon lành.

< Có nhiều nơi núi non trùng điệp, Pó thấy giống quê hương mình, nhưng hóa ra không phải.

Đêm đến thức giấc, không dám cất tiếng gọi, anh lặng lẽ đi khắp thị trấn, mặc cho tiếng chó sủa râm ran. Quanh quẩn cho đến tận sáng mà vẫn không nhìn thấy bạn, không biết làm cách nào khác, Pó thở dài và tiếp tục cuộc hành trình.

Kể từ đó, “thánh phượt” cứ một mình đi ven đường, cả đường to lẫn đường nhỏ. Có nhiều chỗ núi non trùng điệp, anh thấy giống hệt quê hương mình, nhưng khi gặp người bản địa thì hóa ra không phải.

Pó gặp quả thì hái quả ăn, thấy công an thì lẩn tránh, gặp nhà dân thì ghé vào nhà xin cơm. Cũng có người không cho, kêu thanh niên ra đuổi đánh, cũng có người tốt thì khi ra hiệu, anh được họ cho ăn uống khá đầy đủ. “Thức ăn cũng bình thường, họ cho gì thì mình ăn nấy, có lần một gia đình có vẻ khá giàu có trong vùng, khi tôi đến gõ cửa họ còn cho cả thịt gà, cho trứng, có cả rượu uống. Nhưng mà từ khi ra khỏi đất Trung Quốc thì mình không còn được uống rượu nữa”, Vừ Già Pó cho biết.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4
Theo Hải Minh - VTC New

Du lịch, GO!
Read More

Vừ Già Pó: Hành trình về phía mặt trời lặn

(VTC News) - Biết chắc bọn chủ lao động kiểu gì cũng đi lùng bắt, nhóm của “thánh phượt” Vừ Già Pó đi mãi về hướng mặt trời lặn và mất tích.

Kỳ 2: Bỏ trốn vì không chịu được cảnh bị ngược đãi

Tâm sự với phóng viên VTC News, Vừ Già Pó cho biết, những ngày làm lao động chui bên Trung Quốc là những ngày vất vả, tủi nhục nhất trong cuộc hành trình bất đắc dĩ của mình: “Tôi sợ lắm, giờ tôi đã về tới được quê hương rồi, đứa nào còn qua đây rủ rê sang Trung Quốc làm thuê nữa, tôi báo công an bắt luôn!”.
Nhắc đến đó, “thánh phượt” lại khóc. Phải một lúc lâu sau, anh mới có thể bình tĩnh để tiếp tục kể chuyện.


< Anh đang diễn tả lại cảnh bị đánh đập.

Suốt 2 ngày rưỡi trên xe thùng, Pó cùng mấy thanh niên H’Mông mệt lử khi phải trải qua một quãng đường dài hàng ngàn km, lại không được cho ăn uống gì. Xe phóng rất nhanh, đến lúc dừng lại, anh mới nhận ra mình đang đứng giữa một khu rừng rậm. Ở đó, có một căn nhà nhỏ cũ kĩ. Gã chủ dõng dạc tuyên bố: “Đây là chỗ ở của chúng mày, nhớ làm việc chăm chỉ, đứa nào bỏ trốn tao bắn”.

Rồi gã chủ bảo trả công cho mỗi anh em 20 nhân dân tệ/ ngày lao động. Pó thất vọng khi ngày trước Vừ Xìa Già rủ rê sang Trung Quốc, Già có bảo là sẽ được 70 nhân dân tệ 1 ngày. Tuy nhiên, chứng kiến cảnh Ly Mi Na bị đánh khi kêu đói, anh không dám lên tiếng.

Dắt cả nhóm vào căn nhà xập xệ 30m vuông giữa cánh rừng, gã chủ không thèm nói thêm câu nào, vứt xuống một bọc bánh mỳ. Lát sau, gã khệ nệ bê thêm lu nước đặt xuống giữa gian nhà, lạnh lùng vác cái xích sắt to vật vã khóa chặt cửa. Chưa hết, như muốn trấn áp tinh thần của nhóm lao động mới sang, gã rút súng bắn lên trời thêm mấy phát, rồi cười ha hả.

Mọi người sợ hãi ngồi im thin thít. Mãi một lúc sau tình hình có vẻ yên lặng, ai nấy vồ lấy bọc bánh mỳ ăn lấy ăn để cho đỡ đói, rồi uống sạch nước, xong lăn kềnh ra ngủ.

< Rất đông phóng viên báo chí cũng tìm lên Mèo Vạc để ghi lại câu chuyện.

Đêm đầu tiên giữa khu rừng, riêng Pó cứ thao thức mãi không ngủ được, nhớ tới vợ con ở nhà. Nhìn qua ánh trăng, anh dự đoán lúc đó cũng phải gần 2h sáng. Mãi một lúc sau, anh mới ngả lưng xuống, thì đã nghe tiếng lịch xịch mở cửa.

Gã chủ lao động tay lăm lăm khẩu súng cùng mấy thanh niên mặt mũi bặm trợn nhảy vào khua cả nhóm tỉnh giấc, rồi bắt nhóm người H’Mông đi vào rừng khi trời chưa kịp sáng. Suốt gần tiếng đồng hồ, đến một đất vùng cây cối um tùm, có những thân cây cả người ôm không hết, có cả dao, cả cưa tay để sẵn ở đấy. Chúng bắt mọi người đi xẻ gỗ.

Hôm sau thì cả nhóm lại ì ạch kéo gỗ ra khỏi rừng, đến tối mịt mới ra đến điểm tập kết. Hôm sau nữa thì lại đi đào đất, đi trồng cây, rồi lại đi xẻ gỗ...

< Phút hội ngộ đầy xúc động với Ly Mí Tử tại Lũng Lầu, sau khi cả 2 trốn thoát và được trở về nhà.

“Bọn tôi phải làm việc như culi vậy, ai lười biếng hay có ý phản kháng thì tức khắc bị đánh, đi chậm cũng bị đánh, nói chuyện cũng bị đánh, mệt quá dừng tay chốc lát, bị phát hiện cũng ngay tức khắc ăn roi. Thậm chí, ngồi trông coi nhàm chán, chúng còn dùng đá để ném những lao động làm trò vui”, Vừ Già Pó tâm sự.

Thời gian làm việc không tính theo giờ cố định. Hôm nào Pó cùng các bạn cũng chỉ được về nhà khi tay chân rã rời không nhấc nổi lên nữa, chỉ muốn lăn ra ngủ chứ không muốn ăn cơm. Buổi trưa, mặc cho nắng gắt, cả nhóm cũng chỉ được nghỉ 30 phút và ăn cơm trộn với... muối.


< Vừ Già Pó với nét mặt chưa hết thất thần khi kể lại quãng thời gian làm thuê bên Trung Quốc.

Chỉ khoảng 1 tháng sau, “thánh phượt” đã không còn nhận ra chính bản thân mình nữa, khi mà người đàn ông sức vóc thuở nào giờ đã trở nên còm nhom, ốm yếu, thỉnh thoảng cứ thở dốc. Thậm chí, khi gặp lại một người quen cũ ở cùng thôn Lũng Lầu, phải mãi một lúc sau họ mới nhận ra được anh.

Đó là một ngày cuối tháng 7 năm 2012, Pó cùng mấy anh em thấy gã chủ lao động dắt thêm 5 thanh niên H’Mông đến bảo làm việc cùng. Những người mới cũng vừa được Vừ Xìa Già rủ rê sang Trung Quốc. Nhận ra người quen, anh mừng rỡ chạy lại hỏi chuyện vợ con.

Tuy nhiên, chưa kịp hỏi, thì gã chủ lao động đã chạy lại hất hàm: “Mày hỏi làm gì? Định tính chuyện bỏ trốn à?”. Rồi ngay tức khắc, chúng lôi xềnh xệch anh ra bìa rừng đánh đập.

“Chúng đánh tôi gãy mấy cây roi, đau quá gần như không còn cảm giác gì nữa. Rồi khi chúng dùng chân đá thẳng vào mặt, tôi ngất xỉu. Tỉnh dậy trong căn nhà thì hóa ra mình đã nằm được 2 ngày”, Vừ Già Pó sợ hãi.

Gần như tiêu tan hết mọi hy vọng kiếm về khoản tiền 18 triệu cho vợ con sắm sửa, không tin vào lời hứa hão huyền của Vừ Xìa Già, “thánh phượt” cùng Ly Mí Tử, Ly Mi Na, Và Mí Mua và 2 người nữa bàn bạc việc bỏ trốn. Mỗi lần đi làm về, ai nấy đều dắt thêm 1 đoạn dây rừng nhỏ, giấu kỹ trong người.


< Ly Mí Tử, Vừ Già Pó: "Chúng tôi sợ phải đi sang Trung Quốc lao động chui lắm rồi".

Nhằm vào đêm không trăng, cả nhóm mang từng đoạn dây rừng ra, rồi hì hục nối thành một sợi dây lớn, vắt lên xà nhà. Ngay trong đêm tối, 6 bóng người dắt thêm một ít cơm nắm đã để dành được, lặng lẽ trèo ra khỏi căn nhà cũ khóa kín cửa, tụt xuống rồi nhanh chóng chạy biến vào trong rừng.

Đi mãi, đi mãi, đến tận trưa hôm sau, mấy thanh niên H’mông mới ra đến một thị tứ nhỏ, dân cư thưa thớt. Gom tất cả bạc lẻ trong túi, cả nhóm lao vào một quán phở, ăn ngấu nghiến. Cả tháng trời, mọi người giờ mới biết đến mùi thịt.

Biết chắc bọn chủ lao động kiểu gì cũng đi lùng bắt, Vừ Già Pó quyết định chia làm 2 nhóm đi theo 2 hướng khác nhau, vì ít ra trường hợp có bị bắt trở lại thì cũng còn người về nhà báo tin và giải cứu. Vừ Già Pó, Ly Mi Na, Và Mí Mua đi nhóm 1, tiến về hướng mặt trời lặn. Ly Mí Tử theo nhóm còn lại đi về hướng đông.

< Lý Mí Tử: "Anh Pó vừa được tìm thấy ở Pakistan, nhưng tôi còn 2 người bạn nữa không biết lưu lạc ở đâu".

Cuối năm 2012, nhóm của Lý Mí Tử kiệt sức, nằm vật vờ ở khu chợ gần biên giới, bị lực lượng công an địa phương bắt và trao trả cho phía Việt Nam theo đường ngoại giao. Vợ Ly Mý Tử phải bán cả 2 con bò để có tiền làm lộ phí đưa chồng về Lũng Lầu.

Riêng nhóm của “thánh phượt” Vừa Già Pó, hoàn toàn mất liên lạc. Vừ Già Pó đã trở về sau khi “phượt” sang tận... Pakistan, còn Ly Mi Na, Và Mí Mua vẫn không biết đang lưu lạc ở mãi tận phương trời nào.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4
Theo Hải Minh - VTC New

Du lịch, GO!
Read More

Cuộc phiêu lưu của 'thánh phượt' Vừ Già Pó

(VTC News) - Nghĩ đến cảnh các con có thêm tấm áo mới, để mặc, bữa ăn có thêm thịt cá... Pó tặc lưỡi đồng ý đi lao động chui bên Trung Quốc.

Kỳ 1 : Xách bao ngô lên và... đi

Vào tháng 12/2013, tờ báo Dawn.com của Pakistan đưa tin, một người đàn ông đã bị cảnh sát Pakistan bắt giữ do đi vào lãnh thổ Pakistan từ Ấn Độ vào tháng 10/2013, trong tình trạng không tiền bạc, không giấy tờ tùy thân. Sau khi bị bắt, phải đến 10-12 ngày sau, người đàn ông trên mới bắt đầu nói chuyện nhưng bằng một thứ tiếng kỳ lạ khiến cảnh sát ở đây không thể nào hiểu được.

Với mong muốn giúp người này tìm được gia đình, đồn cảnh sát thị trấn Athmuqam, Pakistan đã đăng tải 1 đoạn clip đặc biệt để anh này nói bằng thứ tiếng của mình. Sau đó, nhân vật bí ẩn đã được xác định là Vừ Già Pó, một người dân tộc H’Mông, ở xã Khâu Vai (Mèo Vạc, Hà Giang) của Việt Nam.

< Phút xúc động gặp lại người thân của Vừ Già Pó.

Trải qua rất nhiều nỗ lực của các bên liên quan, Vừ Già Pó mới được trở về quê nhà Khâu Vai vào ngày 12/5/2014, sau gần 3 năm lưu lạc.

Giới trẻ Việt Nam rất nhiều người kính phục, gọi anh bằng cái tên “thánh phượt”, với kỳ tích phi thường của mình. Anh đã đi bộ vượt qua quãng đường gần 6000km, vượt cả dãy Hymalaya cao ngất, băng giá phủ kín, qua cả những vùng chiến sự khốc liệt để đến tận đất nước Pakistan xa xôi.

Bản thân như phượt thủ Huyền Chíp, nổi tiếng với cuốn sách “Xách balo lên và đi” gây ầm ỹ dư luận trong thời gian gần đây, có lẽ bây giờ khi nhắc đến “thánh phượt H’Mông” Vừ Già Pó, chắc cũng phải lắc đầu lè lưỡi.

Căn nhà nhỏ của gia đình Vừ Già Pó mấy hôm nay đông nghịt người đến thăm. Báo chí, truyền hình, cán bộ địa phương, anh em bạn bè gần xa... ai cũng muốn chia vui với Pó sau cuộc hành trình đằng đẵng kéo dài gần 3 năm và có đôi lúc tưởng như không thể trở về. Pó gặp ai cũng ôm chầm lấy khóc lớn, chốc chốc lại kêu lên: “Người thân của tôi đây rồi, quê hương của tôi đây rồi!”.

< Anh đã trở về với cuộc sống thường nhật của mình.

Tiếp chuyện với phóng viên VTC News, Pó vẫn nhớ rõ từng chi tiết về những ngày lưu lạc gian khổ ở xứ người. Anh thổn thức kể lại mọi việc bắt đầu từ cuối tháng 6/2012.

Vừa Già Pó vốn là con một, mồ côi từ bé, bố mẹ bạo bệnh mất sớm chỉ để lại cho căn nhà cùng mấy khoảnh ruộng. Về sau, có một gia đình H’Mông khá giàu có ở thôn Lũng Lầu đã cưu mang, gả con gái là Ly Thị Lía theo Pó về làm vợ khi mới 16 tuổi. 5 đứa con lần lượt ra đời trong hoàn cảnh nghèo túng, chạy ăn từng bữa. Trước khi anh bước vào cuộc phiêu lưu bất đắc dĩ của mình, người con gái lớn đã lập gia đình và sinh sống ở xã bên.

Hai vợ chồng hàng ngày lên nương rẫy trồng ngô, nhưng cũng chỉ được 2 vụ. Những lúc nông nhàn, Pó đi làm thuê khắp huyện. Bản thân anh cũng được biết việc có nhiều người H’Mông trong xã thỉnh thoảng vẫn trốn sang Trung Quốc làm thuê, rồi có ít tiền mang về mua sắm đồ đạc cho gia đình. Tuy nhiên, với bản tính hiền lành nhút nhát của mình, anh cũng chưa bao giờ nghĩ đến việc vượt biên. Pó lo sợ khi vượt biên bị công an bắt, bị bỏ tù, thì vợ con sẽ khổ.

< Vừ Già Pó kể lại mọi chuyện với PV VTC News.

Vừ Già Pó cho biết, cuối tháng 6/2012, hết vụ ngô, không kiếm được việc làm thêm, Pó đang buồn rầu ngồi trước cửa thì bố vợ của anh xuất hiện. Ông rủ anh sang bên Trung Quốc đi trồng rừng, chăm bón cho cây cối.

Lần sau bố vợ quay lại, có thêm cả Ly Mí Tử, Ly Mi Na, là những người anh em họ hàng bên ngoại đi cùng. Mấy anh em kể với Pó về những trường hợp đi Trung Quốc làm thuê, lúc về có tiền mua tivi, mua điện thoại di động, con cái có tiền ăn học đầy đủ.

Lần này, một chủ vườn bên Trung Quốc có nhu cầu thuê thêm người làm việc trong thời gian 3 tháng, và hứa trả tiền công cho mỗi người tới tận 18 triệu đồng tiền Việt. Vì mối “thơm”, nên bố vợ cũng như Ly Mi Na, Ly Mí Tử chỉ muốn rủ anh em trong họ cùng đi làm, cùng hưởng.

Rồi Vừ Xìa Già ở thôn Lũng Pù, Mèo Vac cũng đến và vận động Pó đi lao động chui. 4 lần vào ngồi nói chuyện với Pó, lần nào Vừ Xìa Già cũng hứa chắc như đinh đóng cột rằng mọi việc đã thông suốt, sẽ có người đưa sang bên kia biên giới, có người tiếp nhận và làm việc. Đồng thời, Già căn dặn mọi người phải giữ bí mật tuyệt đối về thông tin, không được lộ ra cho chính quyền biết

< Cuộc sống trên cao nguyên khô cằn sỏi đá, người dân chỉ biết bám lấy nương rẫy sinh sống.

Nghĩ đến cảnh các con có thêm tấm áo mới, để mặc, bữa ăn có thêm thịt cá, nhà có cái tivi, ánh mắt và nụ cười sung sướng của vợ khi trong nhà xuất hiện thêm 1 đống tiền, tiêu không phải nghĩ..., với lại chuyến đi toàn là những người thân quen, phần lớn là anh em họ hàng bên nhà vợ, Pó tặc lưỡi đồng ý.

Người đàn ông với vẻ ngoài hiền lành chân chất này không hề biết rằng, mình sắp bước vào một chuyến “phượt” bất đắc dĩ, kéo dài 3 năm với quãng đường gần 6000km.

Khi đi, Pó được vợ chuẩn bị 1 tay nải đồ đạc, dắt túi ít tiền mặt, thêm bao ngô, mèn mén làm lương thực trong những ngày đi đường sang bên Trung Quốc. Tuy nhiên, sau nửa ngày đi bộ từ thông Lũng Lầu ra tới trung tâm huyện Mèo Vạc, Vừ Xìa Già bắt anh phải để lại mọi thứ, tránh để mọi người biết.

< Một góc thôn Lũng Lầu, nơi Vừ Già Pó cùng mấy thanh niên khác đi xuất khẩu lao động chui bên Trung Quốc.

Ăn trưa xong, 10 người xuất phát trên 5 chiếc xe máy đi thẳng lên xã Sơn Vĩ. Và ngay trong đêm tối, mấy thanh niên H’Mông lặng lẽ theo đường tiểu ngạch, trèo qua 5 ngọn núi cao chất ngất, trốn sang đất Quảng Tây, Trung Quốc.

Vừ Xìa Già rút máy ra gọi, mấy phút sau có gần chục người lạ mặt xuất hiện, cùng một chiếc xe thùng cỡ lớn, bịt bùng như xe tù. Vừ Già Pó nhìn thấy rõ người Trung Quốc đếm từng đầu người rồi đưa một xấp toàn tiền 500 nghìn tiền Việt cho Vừ Xìa Già, gọi là “phí môi giới”. Pó hỏi, Vừ Xìa Già thản nhiên trả lời: “Tiền này tao đưa về cho vợ con chúng mày một ít để sinh sống trong những ngày chúng mày phải làm việc ở bên này, còn lại tao hưởng, tao cũng phải có tý công chứ”.

< Pó không biết được, mình sắp sửa bước vào một cuộc phiêu lưu kỳ lạ.

Sau đó, mấy người lạ mặt dồn cả nhóm người H’Mông lên xe thùng, chạy liền một mạch suốt 2 ngày rưỡi, vào sâu trong nội địa Trung Quốc. Dọc đường đi, không ai được ăn uống, chỉ có một ít nước lọc cầm hơi.

Lúc dừng xe đi vệ sinh cạnh đường, Ly Mi Na kêu đói, kiệt sức, tức thì anh ta nhận ngay 2 cái tát nổ đom đóm từ một gã Trung Quốc bặm trợn đi cùng đoàn, gã rút thêm khẩu súng bắn chỉ thiên lên trời đe dọa và chửi tục. Mấy thanh niên H’Mông im thin thít không dám phản ứng, chỉ biết dìu bạn lên xe và tiếp tục hành trình.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4
Theo Hải Minh - VTC New

Du lịch, GO!

Giúp 'vua phượt' về nhà - update
Vừ Già Pó chờ ngày về...
Read More

Ly kỳ chuyện thầy tu thuần phục hổ

(DVO) - Hang Hổ nằm ngay hòn núi tiếp giáp dãy Trường Sơn, ở độ cao 100m so với mặt biển, thuộc thôn Phú Liên, xã An Phú, TP.Tuy Hòa, Phú Yên. Xung quanh hang Hổ có rất nhiều chuyện ly kỳ hấp dẫn

Kỳ bí hang Hổ

Trong quá trình hỏi đường lên hang Hổ, nhiều người nhìn tôi ái ngại. Dù sẵn lòng chỉ đường, nhưng họ luôn miệng khuyên: “Từ đây lên đó không xa lắm, nhưng nếu không có người dẫn đường thì khó mà tìm đến hang Hổ được”. Hỏi mới biết, chính họ cũng không hiểu vì sao, dù cách khoảng 2km và nhìn lên có thể thấy nhưng những người nếu không thường xuyên lên xuống hang Hổ, thì sẽ không tài nào tìm đến hang được.

Ban đầu chúng tôi cứ nghĩ rằng họ… “hù” người lạ, nhưng sau mười mấy phút theo chân anh Nguyễn Chí Quốc (29 tuổi, người thôn Phú Liên) để chinh phục hang Hổ thì chúng tôi mới thay đổi suy nghĩ: họ nói đúng.

Nhiều lúc, thấy hang Hổ chỉ còn cách khoảng vài trăm mét. Nhưng đi một đoạn nữa thì lại thấy xa mịt mùng! Cái khoảng cách xa gần ấy hoán đổi nhau như lũ trẻ chơi trò ú tìm. Người thanh niên dẫn đường giải thích rằng, đó có thể là do đường lên hang Hổ phải quanh co, luồn lách nhiều bụi rậm nên gây ảo giác như thế. Có thể là còn những nguyên nhân khác, nhưng khi chúng tôi hỏi, thì anh Quốc chịu, chỉ khẽ lắc đầu bảo: “Chắc là do mấy chuyện linh tinh ấy mà…”.

Sau hơn nửa tiếng đồng hồ leo núi, chúng tôi đến được “địa phận” của hang Hổ. Tuy nhiên, cả hai không thể nào tiếp cận được hang bởi dây leo, cây rừng chằn chịt đã “phong tỏa” mọi con đường đến hang. Anh Quốc bảo: “Cách đây khoảng chục năm, vô hang dễ vì người ta đã chặt hết rừng bạch đàn, giờ trồng rừng lại nên mới rậm rạp thế này”.

Thật ra, không nhiều người biết chuyện về hang Hổ, lớp người biết chuyện thì không còn nhiều và hầu như quên bén đi. Chúng tôi biết hang Hổ nhờ tình cờ đọc cuốn Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ ca dao Phú Yên của tác giả Nguyễn Đình Chúc, có đoạn miêu tả hang Hổ như sau: “…Những cụm đá ở đây hình như được tạo hóa dày công sắp xếp nhỏ lớn theo dãy núi. Mỗi cụm là một cái hang ăn sâu vào lòng đất, có thể chứa 2 – 5 người. Hang lớn nhất là hang Hổ chứa được từ 30 – 40 người. Hang cao đến 5m, đi đứng qua lại dễ dàng.

Trong hang có nhiều tảng đá bằng có thể ngồi, nằm thuận tiện. Phía trước có một hòn đá ba cạnh đứng thẳng, đỉnh nhọn gọi là tảng đá Giáo và giống đá thiên nhiên với đường kính 3m. Cấu tạo hang Hổ rất đặc biệt. Mới nhìn ta cứ tưởng thời xa xưa có ông khổng lồ bê từng tảng đá chồng lên nhau, tạo thành hang mà dừng chân. Cửa hang lại có một tảng đá nhỏ nhô lên như cái bình phong, chia thành hai lối đi tả hữu”. Trao đổi với tác giả cuốn sách trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chúc cho hay, có một số tài liệu miêu tả hang Hổ như một sự sắp đặt. “Đó là có người khổng lồ dựng hai tảng đá hai bên, tựa vào lưng núi. Sau đó bê thêm một tảng đá lớn làm mái che, tạo thành hang Hổ”.

Ông Nguyễn Phụng Kỳ (72 tuổi, người thôn Phú Liên), một trong số ít những du kích chống Mỹ từng sống hai năm ở hang Hổ, cho biết: “Hồi tôi lên ở hang Hổ thì trong hang tuy rộng nhưng phải khom người mới vào được, trong ấy rất bằng phẳng và chỉ có đất, chứa được khoảng hai tiểu đội. Phía trước hang thì đá lởm chởm, hai bên là dây rừng, bụi gai.

Xung quanh hang Hổ còn có mấy hang nhỏ nữa. Hang Hổ khi ấy có thể chứa được hai tiểu đội, khoảng trên 20 người. Còn những hang nhỏ xung quanh, là nơi ẩn nấp an toàn của vài ba du kích trước làn đạn của kẻ thù”. Ông Kỳ cũng cho hay, không hiểu do địch ném bom sai vị trí, hay được thần linh “giúp đỡ” mà khi Mỹ thả bom, mọi người vẫn an toàn trong hang Hổ. Những năm gần đây, lãnh đạo thường hay tổ chức các chuyến về nguồn. Tuy nhiên, nhiều du kích từng sống dưới hang Hổ năm xưa không thể vào lại được nơi từng che chở mình, bởi cây rừng đã bít hết lối đi.

Thầy tu thuần phục hổ dữ

Do hang Hổ bị phong tỏa bởi cây và dây rừng nên chúng tôi buộc phải hạ sơn, anh Quốc dắt chúng tôi đến một hồ nước, trước đây có tên là đập Lỗ Ân, do chiến tranh tàn phá nên những dấu tích của cái đập không còn nữa. Từ dưới đập Lỗ Ân, dễ dàng thấy một tảng đá màu đen, phía trước và hai bên tảng đá này bị “vây” bởi rừng bạch đàn. Anh Quốc cho biết dưới tảng đá ấy chính là hang Hổ. Thời kháng chiến, hang Hổ chính là nơi ẩn nấp của du kích, căn cứ giao liên giữa hai miền xuôi ngược. Địch dù biết nhưng chỉ dám đánh từ xa chứ không dám lại gần, bởi địa thế có lợi cho du kích.

Hang Hổ trước kia có tên gọi là hang Chùa, nguyên nhân của cái tên là do có một vị thầy tu (không rõ thời nào) đến sống ẩn dật, tu hành. Ông Nguyễn Phụng Kỳ, một trong số ít những người biết chuyện về hang Hổ, kể: “Có nhiều giai thoại về vị thầy tu này. Có người nói rằng ông nhờ khổ tâm tu luyện mà đắc đạo và có nhiều phép thuật. Nhờ phép thuật cao siêu mà vị chân tu này đã hoán cải lũ hổ dữ, khiến chúng trở nên hiền từ. Lại có người cho rằng ông giỏi thuần phục thú dữ, thân lại mang võ công cao nên ông dùng để “trị” hổ”. Cả hai câu chuyện mà ông Kỳ kể, đều được đề cập trong cuốn sách của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chúc.

Đúng như tên gọi, trước khi thầy tu này đến, hổ sống rất nhiều ở trong và xung quanh hang. Ngày ngày, dân sống dưới chân núi luôn khiếp sợ bởi tiếng gầm rú ghê rợn của các “ông ba mươi”. Không ít người, vì mải mê săn bắn thú rừng mà bỏ mạng dưới nanh vuốt của hổ dữ. Từ ấy, dân quanh vùng không ai “cả gan” mà bén mảng đến gần hang hổ. Mãi cho đến khi thầy tu xuất hiện và sống ở đó, người dân mới an tâm làm rẫy, săn thú gần hang Hổ.

Sở dĩ có chuyện này là vì, theo lưu truyền, vị thầy tu này đã làm cho bầy hổ trở nên “thân thiện” với người dân và không bao giờ giết hại họ. Thậm chí, người ta còn thấy vị thầy tu và bầy hổ sống chung với nhau một cách rất vui vẻ. Và để nhớ ơn, khi ông qua đời, dân lập miếu thờ ông Tạ Từ ngay trong hang, nay đã không còn dấu vết. Khi vị thầy tu mất, thì hổ lại tái “chiếm” hang, những bầy hổ bỏ đi nơi xa cũng quay trở lại. Lần trở lại này, bầy hổ trở nên hung dữ và manh động hơn trước. Dân trong vùng, vì muốn sống yên ổn nên tổ chức thanh niên trai tráng, những người giỏi võ để giết hổ.

Ai oán hồ “than thở”

Lại nói về hồ nước (tức đập Lỗ Ân) trước hang Hổ, có người cho rằng hang Hổ cũng góp nước cho hồ này. Sau năm 1975, dân đắp thành đập để phục vụ làm nông nghiệp, nay đã hư hỏng hoàn toàn. Trước đó, hồ nước này gắn liền với vài câu chuyện tình đầy ngang trái. Ví như chuyện có đôi trai gái yêu nhau thắm thiết, thề non hẹn biển đợi ngày nên nghĩa phu thuê. Nào ngờ cô gái thay lòng, hám giàu mà lấy một phú ông góa vợ.

Chàng trai quá đau khổ, lên hang Hổ ngồi khóc đến nỗi nước mắt chảy thành dòng suối rồi tạo thành hồ nước. Ngày nay vẫn còn câu ca dao “Tiếng đồn hang Hổ nhiều beo/ Có vài giạ lúa nó theo ầm ầm”. “Nó” là ý nói những cô gái thay lòng. Lại có chuyện rằng, hang Hổ là nơi tình tự, hẹn hò của những đôi trai gái yêu nhau. Khi đường tình duyên trắc trở, những kẻ “thất tình” tìm đến nơi này để gom góp kỷ niệm của ngày nồng ấm. Rồi khóc than cho cuộc tình lỡ, có lẽ có quá nhiều mối tình dang dở mà nước mắt thành hồ nước to lớn. Cũng vì vậy mà hồ nước này được ví như hồ “than thở”. Và đây là một trong số ít câu ca dao nói về chuyện này: “Lời thề hang Hổ ngày nào/ Ai mà phụ bạc, trên cao có trời”.

Xung quanh hồ nước có vùng đất tương đối bằng phẳng, lại có một phiến đá lớn, mặt đá tương đối bằng phẳng. Theo anh Nguyễn Chí Quốc, ngày nay trai gái hay đám thanh niên vẫn thường đến đây để vui chơi, dù đường đi hơi trắc trở. Thỉnh thoảng, khi những cơn gió thổi ngược chạm vào mặt núi, những người làm rẫy gần đấy thường nghe những thanh âm như tiếng thổn thức. Họ cho rằng đó là những cung bậc nỉ non, ai oán của những kẻ lỡ đường tình duyên.

Trong tương lai gần, người ta sẽ ngăn đập nhằm ổn định nguồn nước tưới cho nông dân xã An Phú và các vùng lân cận. Hiện tại, khi hang Hổ vẫn còn bị phong tỏa thì những câu chuyện trên vẫn còn hiện hữu trong tâm trí người dân sống ở đây.

Theo Lý Sơn (Dòng Đời)
Du lịch, GO!
Read More

Huyền thoại cá 'thầy chùa' trên dòng Cửu Long

(ĐSPL) - Có kích thước khổng lồ nhưng cá hô gặp lưới là tự chui đầu vô, đến chừng vướng lưới lại cứ nhảy lên nên sau một hồi chính nó tự quấn mình trong tấm lưới. Cũng chính bởi điều này nên người dân xứ sông nước gọi nó là “cá thầy chùa”, “bự con mà hiền khô”.

Nếu như cá Anh vũ đứng đầu bảng trong nhóm “ngũ quý hà thủy” (5 loài cá quý) của sông ngòi miền Bắc thì cá hô được xem là vua của các loài cá trên dòng Mê Kông. Nói là vua quả không ngoa bởi loài cá này có kích thước vào loại “vô địch”, trọng lượng có khi lên tới 150-200kg. Không những thế, thịt cá cũng vào loại “ngon số một” mà không loài cá nào có thể sánh được.

“Huyệt đạo” cá thiêng

Huyền tích về cá Anh vũ kể rằng, loài cá tiến vua chỉ trở nên thiêng nên quý nhờ được sinh sống ở ngã ba sông Bạch Hạc - ngã ba sông huyền thoại của nước Việt và là nơi giao thoa của ba dòng sông lớn Thao - Đà - Lô. Không biết có phải do sự sắp đặt kỳ diệu của tạo hóa hay không mà trên suốt chiều dài mấy trăm cây số đoạn cuối của dòng Mê Kông chảy trên lãnh thổ Việt Nam, cá hô cũng chỉ quần tụ đông nhất ở ngã ba sông Vàm Nao. Càng thú vị hơn khi dòm trên bản đồ địa lý thì cái khúc ngã ba Vàm Nao ấy có hình dạng y phóc một chú cá hô.

Theo lời các lão ngư ở cù lao Bình Thủy (huyện Châu Phú, tỉnh An Giang - nơi có truyền thống săn bắt cá hô thì gọi đoạn sông chỗ ấy là khóa Vàm Nao bởi nơi đây là nơi giao mối của ba dòng nước, một hướng từ mé sông Tiền chảy sang, một từ Campuchia đổ xuống và một xuôi về Long Xuyên (An Giang). Khúc sông đến đoạn này thì trụt xuống sâu thăm thẳm với vô số hang hốc.

“Suốt chiều dài dòng sông chỉ sâu chừng 6-7 sải tay nhưng duy nhất đoạn khóa Vàm Nao sâu tới 15 sải. Có lần, tàu Pháp bị chìm ở khúc sông này, người ta thả dây hoài mà không thấy chạm đáy”, lão ngư Trần Văn Chảnh (Tư Chảnh-70 tuổi) cho biết.

Chính cái rốn nước sâu Vàm Nao được cá hô chọn làm điểm dừng chân trên lộ trình của cuộc di chuyển từ Biển Hồ xứ Chùa Tháp về phía hạ nguồn. Biển Hồ Tonle Sáp - cái “túi cá” thiên nhiên vĩ đại nối liền với dòng Mê Kông, sông mẹ của các dân tộc vùng Đông Nam Á. Thế rồi cứ đến mùa nước lên, các loài cá ở Biển Hồ lại làm một cuộc di cư về phía hạ lưu sông Mê Kông. Mà khi về đến lãnh thổ Việt Nam nó được gọi là sông Cửu Long. Nếu như con chim sâm cầm trên đường thiên di gần 5.000 km từ xứ Cao Ly về phương Nam chỉ dừng chân ở mặt nước Hồ Tây (Hà Nội) thì cá hô đã chọn ngã ba sông Vàm Nao làm chốn nghỉ dưỡng.

Sở dĩ cá hô được gọi là “vua” các loài cá nước ngọt là bởi vì nó có kích thước vào hàng “to lớn” nhất, “khủng” nhất trong các loại cá. Cái sự “bự chảng” của cá hô thì dám chắc những người chưa một lần “mục sở thị” cũng khó ngờ và không tưởng tượng ra nổi. Hãy hình dung con cá chép thông thường có trọng lượng khoảng 1,5-2kg thì con cá hô được phóng đại gấp... 100 lần. Nghĩa là nó có thể nặng tới 150-200kg. Thậm chí người ta đã từng thấy có con cá hô dài 3 mét, nặng tới 300kg. Trọng lượng ấy xấp xỉ một con bò, nặng hơn chiếc xe máy thì đúng là cực kỳ hiếm trong các loài cá nước ngọt.

Những người già lẫn những khách thương hồ thường qua lại trên sông vẫn thường kể rằng, vào những ngày nước ròng trăng sáng họ vẫn thường thấy con cá hô phi thân lên khỏi mặt nước phô diễn sức mạnh “chúa tể sông ngòi”. Cả thân hình nó to như một tấm ván ngựa, vây ánh bạc, hai con mắt to bằng hai miệng chén ăn cơm. Nó quẩy một cái làm mặt sông nổi sóng, tung bọt trắng xóa và tạo nên một tiếng động ầm ầm chẳng khác nào bom nổ.

“Các cụ bảo đó là do bị con vắt chui vào mang ngứa nên cu cậu mới nhào lên mặt nước cho vắt chui ra”, ngư dân Nguyễn Văn Ba (54 tuổi, ấp Bình Thiện, xã Bình Thủy) kể.

Món gì cũng “ngon hết sảy”

Từ xưa đến nay chưa một ai ở Bình Thủy lặn xuống sông mà thấy cá hô, cũng không ai biết nó trú ngụ ở hang hốc, luồng lạch nào. Cách duy nhất là đợi cá hô nhào lên khỏi mặt nước rồi cứ khúc sông đó mà giăng lưới... chờ. Theo dấu cá hô “cực thí mồ” nhưng ngư dân ai cũng khoái, cũng ham. Bởi lẽ bắt được một con là cầm chắc lượng vàng, cũng đáng “đồng tiền bát gạo”. Hơn nữa trong đời người ngư phủ, bắt được con cá chúa, “vua của các loài cá” thì mới xứng đáng là tay săn cá lão luyện. Thời hoàng kim, ở Bình Thủy từng có vài chục tay lưới cá hô cự phách.

Ngư dân Nguyễn Văn Ba bảo, săn cá hô phải săn cá to mới thú. Thế nên họ phải sắm một tấm lưới cũng thuộc hàng kỷ lục. Lưới bện bằng chỉ Nhật, dài 70-80m, sâu cỡ 6-9 thước. Mắt lưới rộng chừng 4 tấc rưỡi. Dùng lưới này, cá to 40-50 ký chui lọt chỉ có cá từ 60 ký trở lên mới trúng. Đã trúng là trúng lớn. Một tấm lưới cá hô khi đó trị giá tới 6-7 chỉ vàng, là một tài sản rất lớn.

Trong suốt gần 15 năm hành nghề săn cá hô, ông Ba cũng không nhớ mình đã được bắt được bao nhiêu con cá hô. “Con nặng 70-80 ký thì nhiều lắm. Nhưng cả đời tôi nhớ nhất là lần bắt được con cá hô nặng 160 ký. Phải dùng hai cái cân đòn mới cân nổi”, lão ngư bồi hồi nhớ lại.

Không chỉ có kích thước khổng lồ, cá hô còn có một tập tính rất lạ. Gặp lưới là tự chui đầu vô, đến chừng vướng lưới lại cứ nhảy lên nên sau một hồi chính nó tự quấn mình trong tấm lưới. Cũng chính bởi điều này nên người dân xứ sông nước gọi nó là “cá thầy chùa”, “bự con mà hiền khô”.

Có người còn nghêu ngao, có lẽ tại con cá sống lâu ở đất nước Chùa Tháp, nghe nhiều kinh Phật nên cũng “hiền như Bụt”. Trong bụng cá chỉ có duy nhất một thứ là cát non. Không biết có phải vì không “sát sinh” các loài cá khác, chỉ ăn rong tảo, cát non mà cá hô hiền lành vậy không?

Những ngư dân kỳ cựu nói rằng đánh cá hô là nghề nhàn tản nhưng nguy hiểm và kỳ lạ. Ngư dân chỉ việc căng lưới rồi vài tiếng sau ra thăm, kéo lưới thấy nặng là dính cá hô, còn nếu nhẹ tênh lại thả tiếp. Nhưng không phải cứ có lưới mang ra thả là trúng, nó còn phụ thuộc vào cái duyên và sự may rủi.

“Thông thường cách duy nhất để bắt cá hô là dùng lưới. Nhưng trong đời, tôi từng 2 lần câu trúng cá hô. Mà trúng con những 130 ký. Đó cũng là lúc vợ tôi đang ốm. Khi giăng câu tôi chỉ khấn trời sao trúng con cá lớn để có tiền thuốc thang cho vợ không ngờ lại trúng cá hô lớn như vậy”, ông Ba nhớ lại.

Cá hô cỡ 5-10 ký sống ít nhất cũng vài năm, còn những con khổng lồ hàng trăm ký không biết đã trải qua hàng bao nhiêu năm. Nó đã hấp thụ bao nhiêu dưỡng chất của sông nước, sống qua bao nhiêu mùa di cư mà trở nên quý hiếm. Thế nên hết thảy những người đã có dịp thưởng thức qua món ăn chế biến từ cá hô đều phải gật gù công nhận “ngon hết sảy”.

Thịt cá vừa ngọt vừa dai nhưng không dai như thịt heo, thịt bò mà vừa dai vừa có nhiều sụn sần sật. Cá hô chế biến món gì cũng ngon nhưng với những lão ngư từng hạ gục hàng trăm con cá hô thì “thịt cá ăn mãi cũng nhàm”. Chỉ có hai món “thượng hạng” nhất chính là phần miệng “hô” ra và cái bong bóng cá.

Thông thường, cá hô nhỏ, người ta chặt bỏ cái phần hô nhô ra ngoài. Nhưng nếu cá lớn vài chục ký hoặc đến một trăm ký thì cái phần hô cân cũng được vài ba ký mà lại là phần sụn, nấu mềm với canh chua thì đúng là “ngon dữ lắm”, không có món gì có thể so sánh được.

Cái sụn của miệng cá hô ninh kỹ ăn nghe sần sật thật đúng câu “miệng nhai tai nghe”, đã răng đã miệng mà còn đã cả tai. Thứ hai là cái bong bóng cá dày như miếng cùi dừa, xào giấm thêm bông cải khi ăn sừng sực, dai dai mà giòn ngon không thể tả. Thứ này mà nhâm nhi với rượu đế là muốn say quên trời quên đất.

Càng quý càng hiếm thì giá cá hô lại càng đắt. Bây giờ thương lái có thể trả giá tới 2 triệu đồng/kg. Nghĩa là nếu bắt được con cỡ trăm ký là cầm chắc vài trăm triệu đồng trong tay. Thế nhưng làm gì còn cá hô mà bắt. Chuyện cá hô trân quý lẫn những món ăn thuộc hàng “sơn hào hải vị” kia, tất cả đã trở thành “vang bóng một thời”.

Với cách đánh bắt dùng lưới cào, xung điện thì đến các loài cá nhỏ cũng bị tận diệt chứ đừng nói gì đến loài khổng lồ như cá hô. Từ năm 1999 trở về sau, cá hô hiếm dần, những cao thủ “sát cá hô” gắng gượng thêm vài năm rồi cũng đành buông chèo gác lưới. Văn Ba, Tư Chảnh tháo lưới cá hô làm thành vài chục chiếc võng cho anh em họ hàng mỗi người cái nằm chơi.

“Bỏ nghề săn cá hô rồi tôi cũng bỏ nghề lưới luôn. Đến nay đã cả chục năm rồi không còn thấy có con cá hô nào to hàng trăm ký”, lão ngư Văn Ba hướng ánh mắt xa xăm về phía ngã ba sông Vàm Nao nói.

Theo Đời Sống - Pháp Luật
Du lịch, GO!

Săn cá 'trăm triệu' trên sông Cửu Long
Read More