Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Việt Nam tuyệt đẹp trong quảng cáo iPad Air
Apple vừa chiếu hai đoạn video quảng cáo iPad Air trên giờ vàng truyền hình Mỹ, trong đó có một đoạn video với nhiều hình ảnh Việt Nam hiện ra rất nên thơ và năng động.
Việt Nam nên thơ trong quảng cáo iPad Air
Hai đoạn quảng cáo được chiếu trên truyền hình Mỹ ngày hôm qua nằm trong chiến dịch marketing "Bài thơ của bạn". Chiến dịch này được Apple khởi xướng từ tháng Giêng năm nay bằng một quảng cáo trích đoạn từ vở kịch do Robin Williams thủ vai. Trong vở kịch này, Williams đã nói một câu: "Cuộc chơi vẫn tiếp diễn và bạn sẽ sáng tác một bài thơ. Bài thơ của bạn là gì?"
Như để trả lời cho câu hỏi nói trên, Apple hôm qua đã đăng tải hai clip quảng cáo mới rất "nên thơ". Trong hai đoạn quảng cáo này, người dẫn chuyện không nói một lời. Thay vào đó, các đoạn nhạc cổ điển được phát du dương làm nền cho những hoạt động thường nhật của họ với chiếc iPad Air trên tay. Cũng giống như phần lớn các quảng cáo đã thực hiện từ trước đến nay, hai đoạn clip mới của Apple giống như một đoạn phim ngắn hơn là video quảng cáo. Đoạn phim thứ nhất nói về Esa Pekka Salonen - một nhà soạn nhạc kiêm chỉ huy dàn nhạc giao hưởng London. Salonen sử dụng iPad Air để soạn nhạc trong khi di chuyển từ nhà tới nơi làm việc.
Đoạn phim thứ hai nói về Cherie King, một người chuyên viết về những trải nghiệm du lịch vòng quanh thế giới. Cherie đã đi đến Việt Nam và Ma-rốc, sử dụng iPad Air chụp những tấm ảnh rất nên thơ với con trâu trên cánh đồng Bắc Bộ , những cánh buồm trên vịnh Hạ Long, và một Sài Gòn năng động với rất nhiều xe máy. Ngoài chụp ảnh, Cherie cũng sử dụng iPad Air để chuyển ngữ các đoạn hội thoại, gọi FaceTime và viết blog cá nhân.
Chiến dịch quảng cáo của Apple nhằm thúc đẩy doanh số của iPad sau một quý II không như ý. Trong quý II năm nay Apple đã bán được 16,4 triệu chiếc iPad. Đây là một con số mơ ước của nhiều hãng sản xuất máy tính bảng, nhưng lại là một sự thất vọng với Apple bởi quý II năm ngoái hãng này đã tiêu thụ được 19,5 triệu chiếc. iPad là nguồn thu lớn thứ hai của Apple sau iPhone, chiếm khoảng 1/5 tổng doanh thu của "Trái táo cắn dở". Kể từ tháng 6 năm ngoái, doanh số của iPad và iPad Mini đã giảm đều 4% một quý. Các nhà phân tích đều cho rằng Apple đã qua thời đỉnh cao với mức tăng trưởng quý 50% do vấp phải sự cạnh tranh ngày một khốc liệt trên thị trường máy tính bảng.
Hình ảnh Việt Nam trong clip quảng cáo của Apple thật nên thơ. Nhưng liệu vẻ đẹp này có giúp cho Apple thúc đẩy được doanh số iPad hay không lại là chuyện khác.
Việt Nam tuyệt đẹp trong quảng cáo iPad Air
Apple vừa chiếu hai đoạn video quảng cáo iPad Air trên giờ vàng truyền hình Mỹ, trong đó có một đoạn video với nhiều hình ảnh Việt Nam hiện ra rất nên thơ và năng động.
Việt Nam nên thơ trong quảng cáo iPad Air
Hai đoạn quảng cáo được chiếu trên truyền hình Mỹ ngày hôm qua nằm trong chiến dịch marketing "Bài thơ của bạn". Chiến dịch này được Apple khởi xướng từ tháng Giêng năm nay bằng một quảng cáo trích đoạn từ vở kịch do Robin Williams thủ vai. Trong vở kịch này, Williams đã nói một câu: "Cuộc chơi vẫn tiếp diễn và bạn sẽ sáng tác một bài thơ. Bài thơ của bạn là gì?"
Như để trả lời cho câu hỏi nói trên, Apple hôm qua đã đăng tải hai clip quảng cáo mới rất "nên thơ". Trong hai đoạn quảng cáo này, người dẫn chuyện không nói một lời. Thay vào đó, các đoạn nhạc cổ điển được phát du dương làm nền cho những hoạt động thường nhật của họ với chiếc iPad Air trên tay. Cũng giống như phần lớn các quảng cáo đã thực hiện từ trước đến nay, hai đoạn clip mới của Apple giống như một đoạn phim ngắn hơn là video quảng cáo. Đoạn phim thứ nhất nói về Esa Pekka Salonen - một nhà soạn nhạc kiêm chỉ huy dàn nhạc giao hưởng London. Salonen sử dụng iPad Air để soạn nhạc trong khi di chuyển từ nhà tới nơi làm việc.
Đoạn phim thứ hai nói về Cherie King, một người chuyên viết về những trải nghiệm du lịch vòng quanh thế giới. Cherie đã đi đến Việt Nam và Ma-rốc, sử dụng iPad Air chụp những tấm ảnh rất nên thơ với con trâu trên cánh đồng Bắc Bộ , những cánh buồm trên vịnh Hạ Long, và một Sài Gòn năng động với rất nhiều xe máy. Ngoài chụp ảnh, Cherie cũng sử dụng iPad Air để chuyển ngữ các đoạn hội thoại, gọi FaceTime và viết blog cá nhân.
Chiến dịch quảng cáo của Apple nhằm thúc đẩy doanh số của iPad sau một quý II không như ý. Trong quý II năm nay Apple đã bán được 16,4 triệu chiếc iPad. Đây là một con số mơ ước của nhiều hãng sản xuất máy tính bảng, nhưng lại là một sự thất vọng với Apple bởi quý II năm ngoái hãng này đã tiêu thụ được 19,5 triệu chiếc. iPad là nguồn thu lớn thứ hai của Apple sau iPhone, chiếm khoảng 1/5 tổng doanh thu của "Trái táo cắn dở". Kể từ tháng 6 năm ngoái, doanh số của iPad và iPad Mini đã giảm đều 4% một quý. Các nhà phân tích đều cho rằng Apple đã qua thời đỉnh cao với mức tăng trưởng quý 50% do vấp phải sự cạnh tranh ngày một khốc liệt trên thị trường máy tính bảng.
Hình ảnh Việt Nam trong clip quảng cáo của Apple thật nên thơ. Nhưng liệu vẻ đẹp này có giúp cho Apple thúc đẩy được doanh số iPad hay không lại là chuyện khác.
Việt Nam tuyệt đẹp trong quảng cáo iPad Air
Apple vừa chiếu hai đoạn video quảng cáo iPad Air trên giờ vàng truyền hình Mỹ, trong đó có một đoạn video với nhiều hình ảnh Việt Nam hiện ra rất nên thơ và năng động.
Việt Nam nên thơ trong quảng cáo iPad Air
Hai đoạn quảng cáo được chiếu trên truyền hình Mỹ ngày hôm qua nằm trong chiến dịch marketing "Bài thơ của bạn". Chiến dịch này được Apple khởi xướng từ tháng Giêng năm nay bằng một quảng cáo trích đoạn từ vở kịch do Robin Williams thủ vai. Trong vở kịch này, Williams đã nói một câu: "Cuộc chơi vẫn tiếp diễn và bạn sẽ sáng tác một bài thơ. Bài thơ của bạn là gì?"
Như để trả lời cho câu hỏi nói trên, Apple hôm qua đã đăng tải hai clip quảng cáo mới rất "nên thơ". Trong hai đoạn quảng cáo này, người dẫn chuyện không nói một lời. Thay vào đó, các đoạn nhạc cổ điển được phát du dương làm nền cho những hoạt động thường nhật của họ với chiếc iPad Air trên tay. Cũng giống như phần lớn các quảng cáo đã thực hiện từ trước đến nay, hai đoạn clip mới của Apple giống như một đoạn phim ngắn hơn là video quảng cáo. Đoạn phim thứ nhất nói về Esa Pekka Salonen - một nhà soạn nhạc kiêm chỉ huy dàn nhạc giao hưởng London. Salonen sử dụng iPad Air để soạn nhạc trong khi di chuyển từ nhà tới nơi làm việc.
Đoạn phim thứ hai nói về Cherie King, một người chuyên viết về những trải nghiệm du lịch vòng quanh thế giới. Cherie đã đi đến Việt Nam và Ma-rốc, sử dụng iPad Air chụp những tấm ảnh rất nên thơ với con trâu trên cánh đồng Bắc Bộ , những cánh buồm trên vịnh Hạ Long, và một Sài Gòn năng động với rất nhiều xe máy. Ngoài chụp ảnh, Cherie cũng sử dụng iPad Air để chuyển ngữ các đoạn hội thoại, gọi FaceTime và viết blog cá nhân.
Chiến dịch quảng cáo của Apple nhằm thúc đẩy doanh số của iPad sau một quý II không như ý. Trong quý II năm nay Apple đã bán được 16,4 triệu chiếc iPad. Đây là một con số mơ ước của nhiều hãng sản xuất máy tính bảng, nhưng lại là một sự thất vọng với Apple bởi quý II năm ngoái hãng này đã tiêu thụ được 19,5 triệu chiếc. iPad là nguồn thu lớn thứ hai của Apple sau iPhone, chiếm khoảng 1/5 tổng doanh thu của "Trái táo cắn dở". Kể từ tháng 6 năm ngoái, doanh số của iPad và iPad Mini đã giảm đều 4% một quý. Các nhà phân tích đều cho rằng Apple đã qua thời đỉnh cao với mức tăng trưởng quý 50% do vấp phải sự cạnh tranh ngày một khốc liệt trên thị trường máy tính bảng.
Hình ảnh Việt Nam trong clip quảng cáo của Apple thật nên thơ. Nhưng liệu vẻ đẹp này có giúp cho Apple thúc đẩy được doanh số iPad hay không lại là chuyện khác.
Truyện kể Bác Ba Phi
Không riêng gì bà con vùng đất Cà Mau, nói đến chuyện kể bác Ba Phi, hầu như ai cũng biết. Những câu chuyện kể của bác Ba hết sức sống động, vừa huyền thoại vừa kịch tính, đã góp phần rất lớn vào kho tàng Văn học dân gian Nam Bộ.
< Di ảnh bác Ba Phi (1884- 1964).
Tại Hội thảo khoa học Chuyện cười dân gian bác Ba Phi được Bộ Văn hoá - Thông tin tổ chức năm 2002, các nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị nghệ thuật của chuyện bác Ba Phi mang đậm nét đặc trưng của làng quê Nam Bộ. Trong những câu chuyện kể ấy, tiếng cười sảng khoái, vui tươi, gắn chặt với đồng ruộng, chim thú, cây rừng..., mang giá trị nghệ thuật cao như: Bắt chim sen, Chọi đá làm máy bay rơi, Leo cây ớt té gãy chân, Le le tập thể dục, Tàu rùa chạy nhanh như tàu máy, Rắn hổ mây tát nước đìa bắt cá…
Bác Ba Phi (Nguyễn Long Phi) được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam truy tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, truy tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn nghệ dân gian năm 2003. Ông sinh năm 1884, tại ấp Rạch Mũi, xã Cái Rắn, huyện Cái Nước. Sau khi sinh ông, ba mẹ ông do tránh sự truy đuổi bắt lính, phạt vạ và quấy rối của đám quan quân thời chúa Nguyễn đã chạy dạt sang trú ngụ tận Kinh Ngang, thuộc xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời ngày nay. Bác Ba là một lực điền giỏi võ và mê đờn ca tài tử, đặc biệt rất giỏi đờn cò.
Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế- một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe, ông được Hương quản Tế hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải làm công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó, nên sau ba năm thì ông cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người con rể và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với sự cần cù sẵn có, ông đã ra sức khai khẩn phần đất được chia thành đồng ruộng cò bay thẳng cánh.
Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã đứng ra cưới vợ hai cho chồng. Bà này sinh được một người con trai là Nguyễn Tứ Hải. Không rõ lý do gì mà khi Nguyễn Tứ Hải mới ba tuổi, bà đã gửi con cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời.
Ông Nguyễn Tứ Hải về sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một người con trai tên là Nguyễn Quốc Trị. Trong những câu chuyện của Bác Ba Phi thì đây là nhân vật thằng Đậu nổi tiếng với thành ngữ "Tệ như vợ thằng Đậu" được dùng để chỉ những người vụng về. Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân tộc Khmer. Bà sinh được hai đứa con gái.
Bác Ba không chỉ nổi tiếng qua các câu chuyện kể in đậm cá tính người nông dân Nam Bộ mà còn thể hiện tư duy sáng tạo độc đáo qua từng chuyện kể. Những câu chuyện của bác luôn nói về tính cách con người vùng đất U Minh kiên cường trước thiên nhiên khắc nghiệt, dù là kể chuyện tếu lâm hay chuyện dóc nhưng những chuyện bác Ba hiến kế cho bộ đội đánh giặc là có thật.
Bác Ba vốn là người vui tính, lạc quan. Ngay từ lúc nhỏ, mặc dù không biết chữ nhưng Bác lanh trí và thông minh, nên sau hầu hết những câu chuyện bác kể, dù là chuyện dóc do bác suy nghĩ, liên tưởng hay nhân cách hoá chăng nữa, thì ai nghe kể đều cười vui, hả lòng hả dạ vì thấy có tình, có lý. Những năm đầu của thập niên 60, chuyện kể bác Ba Phi xuất hiện như một hiện tượng lạ, lý thú, cuốn hút mọi đối tượng, kể cả các đồng chí giao liên và các chiến sĩ ngoài mặt trận.
Bác Ba Phi qua đời vào ngày 3/11/1964, tại ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, nay là Kinh Ngang, ấp Lung Tràm, xã Khánh Hải. Ngôi mộ của bác hiện nằm giữa 2 ngôi mộ của 2 người vợ Trần Thị Lữ và Lữ Thị Cham.
Bác Ba mất đi nhưng đã để lại một kho tàng truyện tếu lâm cho thế hệ sau. Kho tàng văn hoá phi vật thể ở Cà Mau, trong đó có hệ thống chuyện kể bác Ba Phi là kết quả của quá trình lao động, sáng tạo của bác và cộng đồng cư dân Cà Mau.
Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lịch văn hóa của tỉnh Cà Mau. Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi. Đồng thời, nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp người đi mở đất, tính cách đặt trưng, lòng yêu thiên nhiên và con người của người dân Nam Bộ.
Tổng hợp từ Báo Cà Mau, sách: "Cà Mau điểm hẹn"...
Du lịch, GO!
Read More
< Di ảnh bác Ba Phi (1884- 1964).
Tại Hội thảo khoa học Chuyện cười dân gian bác Ba Phi được Bộ Văn hoá - Thông tin tổ chức năm 2002, các nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị nghệ thuật của chuyện bác Ba Phi mang đậm nét đặc trưng của làng quê Nam Bộ. Trong những câu chuyện kể ấy, tiếng cười sảng khoái, vui tươi, gắn chặt với đồng ruộng, chim thú, cây rừng..., mang giá trị nghệ thuật cao như: Bắt chim sen, Chọi đá làm máy bay rơi, Leo cây ớt té gãy chân, Le le tập thể dục, Tàu rùa chạy nhanh như tàu máy, Rắn hổ mây tát nước đìa bắt cá…
Bác Ba Phi (Nguyễn Long Phi) được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam truy tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, truy tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn nghệ dân gian năm 2003. Ông sinh năm 1884, tại ấp Rạch Mũi, xã Cái Rắn, huyện Cái Nước. Sau khi sinh ông, ba mẹ ông do tránh sự truy đuổi bắt lính, phạt vạ và quấy rối của đám quan quân thời chúa Nguyễn đã chạy dạt sang trú ngụ tận Kinh Ngang, thuộc xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời ngày nay. Bác Ba là một lực điền giỏi võ và mê đờn ca tài tử, đặc biệt rất giỏi đờn cò.
Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế- một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe, ông được Hương quản Tế hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải làm công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó, nên sau ba năm thì ông cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người con rể và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với sự cần cù sẵn có, ông đã ra sức khai khẩn phần đất được chia thành đồng ruộng cò bay thẳng cánh.
Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã đứng ra cưới vợ hai cho chồng. Bà này sinh được một người con trai là Nguyễn Tứ Hải. Không rõ lý do gì mà khi Nguyễn Tứ Hải mới ba tuổi, bà đã gửi con cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời.
Ông Nguyễn Tứ Hải về sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một người con trai tên là Nguyễn Quốc Trị. Trong những câu chuyện của Bác Ba Phi thì đây là nhân vật thằng Đậu nổi tiếng với thành ngữ "Tệ như vợ thằng Đậu" được dùng để chỉ những người vụng về. Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân tộc Khmer. Bà sinh được hai đứa con gái.
Bác Ba không chỉ nổi tiếng qua các câu chuyện kể in đậm cá tính người nông dân Nam Bộ mà còn thể hiện tư duy sáng tạo độc đáo qua từng chuyện kể. Những câu chuyện của bác luôn nói về tính cách con người vùng đất U Minh kiên cường trước thiên nhiên khắc nghiệt, dù là kể chuyện tếu lâm hay chuyện dóc nhưng những chuyện bác Ba hiến kế cho bộ đội đánh giặc là có thật.
Bác Ba vốn là người vui tính, lạc quan. Ngay từ lúc nhỏ, mặc dù không biết chữ nhưng Bác lanh trí và thông minh, nên sau hầu hết những câu chuyện bác kể, dù là chuyện dóc do bác suy nghĩ, liên tưởng hay nhân cách hoá chăng nữa, thì ai nghe kể đều cười vui, hả lòng hả dạ vì thấy có tình, có lý. Những năm đầu của thập niên 60, chuyện kể bác Ba Phi xuất hiện như một hiện tượng lạ, lý thú, cuốn hút mọi đối tượng, kể cả các đồng chí giao liên và các chiến sĩ ngoài mặt trận.
Bác Ba Phi qua đời vào ngày 3/11/1964, tại ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, nay là Kinh Ngang, ấp Lung Tràm, xã Khánh Hải. Ngôi mộ của bác hiện nằm giữa 2 ngôi mộ của 2 người vợ Trần Thị Lữ và Lữ Thị Cham.
Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lịch văn hóa của tỉnh Cà Mau. Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi. Đồng thời, nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp người đi mở đất, tính cách đặt trưng, lòng yêu thiên nhiên và con người của người dân Nam Bộ.
Tổng hợp từ Báo Cà Mau, sách: "Cà Mau điểm hẹn"...
Du lịch, GO!
Những ngôi làng lạ lùng...
(NLĐ) - Những năm 60 của thế kỷ trước, xuất phát từ đàn chó nuôi mắc bệnh dại cắn làm nhiều người dân ở xã Diễn Nguyên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An chết. Kinh hãi về bệnh dại, kể từ đó tới nay đã hơn 50 năm, người dân xã này cùng nhau lập hương ước không nuôi chó.
< Đường làng xã Diễn Nguyên vắng bóng các chú chó đã 50 năm nay.
Người Việt Nam có thói quen nuôi chó, trước để giữ nhà, sau bầu bạn. Vì vậy, tiếng chó sủa đã quá quen thuộc, nhất là ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, có một vùng quê ở Nghệ An, tiếng chó sủa đã mất hẳn từ hơn 50 năm qua.
Trận dịch dại kinh hoàng
Về xã Diễn Nguyên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An hôm nay cảm giác yên ả bao trùm. Đi trên những con đường bê-tông sạch bóng, chúng tôi ghé thăm các xóm trong xã như Tân Châu, Tân Cảnh, Tân Phong, Tân Ninh…Đi tới đâu, ghé thăm nhà nào cũng không thấy bóng dáng các chú chó như ở những vùng quê khác.
Theo các vị cao niên trong làng kể lại thì ở xã này, từ mấy chục năm rồi không nuôi chó, xuất phát từ việc một số người dân trong làng bị chó nuôi phát bệnh dại cắn dẫn đến tử vong. Cụ Đào Thị Thuyết (85 tuổi, ngụ xóm Tân Châu) nhớ lại: “Cũng như nhiều nơi khác, ngày xưa nhà nào cũng nuôi chó để giữ nhà. Năm 1962, bệnh dại bùng phát trên đàn chó nuôi. Chó dại cắn cụ cố Phiên trong xóm và một số người khác. Do không được chữa trị kịp thời, tất cả họ đều chết. Lo sợ bệnh dại nên từ đó người dân trong xóm, xã thống nhất với nhau không nuôi chó nữa”.
Một lý do khác mà người dân xã Diễn Nguyên đã hơn 50 năm nay nói không với việc nuôi chó là do chó thả rông phóng uế khắp đường làng, ngõ xóm làm mất vệ sinh và có khi dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, mất tình cảm giữa hàng xóm láng giềng với nhau. Cụ Nguyễn Văn Hồng (90 tuổi, xóm Tân Châu) lý giải: “Nhà nào cũng nuôi 2-3 con chó, cứ thấy người lạ là lao ra cắn. Muốn đi thăm anh em, làng xóm nhưng nghĩ tới cảnh đàn chó dữ là sợ không dám sang nhà chơi. Nuôi chó đúng như cha ông mình vẫn nói “chó dữ mất láng giềng”.
Cũng theo cụ Hồng, từ khi xóm làng không nuôi chó thì người già ra đường không sợ chó cắn, trẻ nhỏ đêm, ngày ngủ ngon giấc bởi không bị giật mình do tiếng chó sủa.
Hương ước kỳ lạ
Ông Nguyễn Bội (87 tuổi, ngụ xóm 7, nguyên Chủ tịch UBND xã đầu tiên của xã Diễn Nguyên) nhớ lại: Sau đợt chó dại cắn làm nhiều người chết, dân làng thống nhất với nhau là xử lý toàn bộ số chó còn sống đồng thời đặt ra hương ước không nuôi chó, ai nuôi sẽ bị phạt. Từ đó tới nay đã trên 50 năm, người dân trong xã không ai bảo ai nhưng đều chấp hành hương ước này một cách nghiêm túc.
Ông Trần Ngọc Sanh, Phó Chủ tịch UBND xã Diễn Nguyên, cho biết: “Hương ước về việc không nuôi chó có từ những năm 1960 cho đến nay, người dân trong xã đều thực hiện nghiêm túc. Không nuôi chó, vệ sinh môi trường trên địa bàn xã luôn sạch sẽ, người dân không còn lo sợ bệnh dại, không có nạn trộm chó”.
Cũng theo ông Sanh, việc đưa ra hương ước không nuôi chó là hoàn toàn tự nguyện, người dân có quyền quyết định việc nuôi hay không nuôi. “Luật pháp không cấm nuôi chó, mới đây, một số người dân có ý kiến về việc này nên chúng tôi đã tổ chức lấy ý kiến và có đến 80% người dân đồng tình với việc không nuôi chó”.
Ông Ngô Quốc Khánh, Công an xã Diễn Nguyên, cho biết nhiều người lo ngại nếu không nuôi chó thì nạn trộm cắp sẽ hoành hành, tuy nhiên tại xã Diễn Nguyên, tình hình an ninh trên địa bàn trong những năm qua rất ổn định. “Ngoài ra, do người dân không nuôi chó nên không xảy ra nạn bắt trộm chó như nhiều địa phương khác” - ông Khánh cho hay.
Làng không ăn thịt chó
Đã hơn 15 năm nay, người dân làng Phú Dương, xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam không ăn thịt chó. Ông Nguyễn Văn Thìn, Trưởng thôn Phú Dương, cho biết trước đây, người làng cũng ăn thịt chó như các địa phương khác nhưng sau cái chết thảm khốc của một phụ nữ trong làng thì người dân trong thôn đã cạch món này cho đến nay. Ông Thìn kể: Năm 1999, bà Nguyễn Thị Đ. lên ngọn núi Gò Thị đốn củi từ sáng sớm đến chiều tối vẫn không thấy về. Cả gia đình và chính quyền địa phương tổ chức đi tìm nhiều ngày liên tục.
< Người dân Phú Dương nuôi chó nhưng chẳng bao giờ giết thịt ăn.
Sau 1 tuần, thi thể bà Đ. được phát hiện nằm trong một đám mía nhưng không còn nguyên vẹn, chỉ còn lại phần đầu và một phần xương chân. Trong khi gia đình tổ chức lễ tang cho bà Đ. thì nhiều người dân trong làng phát hoảng bởi những khúc xương của bà Đ. bị chó mang về nhà. Sự việc này khiến người dân trong làng hết sức kinh hãi, ám ảnh.
Bà Lê Thị Hòa (70 tuổi) rùng mình: “Kể từ thời điểm đó đến nay, tôi không bao giờ đụng đến miếng thịt chó, con cháu tôi cũng chẳng bao giờ ăn. Người dân ở đây vẫn nuôi chó nhưng không bao giờ giết thịt, chó có thể bán hoặc chết thì đem chôn”.
Ông Bùi Tuần, Chủ tịch UBND xã Quế Thuận, xác nhận chuyện người dân thôn Phú Dương không ăn thịt chó là có thật. “Chuyện này xuất phát từ cái chết của bà Đ. cách đây cũng đã lâu mà đến nay dường như đã trở thành thói quen. Không những thôn Phú Dương, một số thôn lân cận cũng như vậy” - ông Tuần cho hay.
Theo Đức Ngọc, Tr Thường (Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Read More
< Đường làng xã Diễn Nguyên vắng bóng các chú chó đã 50 năm nay.
Người Việt Nam có thói quen nuôi chó, trước để giữ nhà, sau bầu bạn. Vì vậy, tiếng chó sủa đã quá quen thuộc, nhất là ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, có một vùng quê ở Nghệ An, tiếng chó sủa đã mất hẳn từ hơn 50 năm qua.
Trận dịch dại kinh hoàng
Về xã Diễn Nguyên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An hôm nay cảm giác yên ả bao trùm. Đi trên những con đường bê-tông sạch bóng, chúng tôi ghé thăm các xóm trong xã như Tân Châu, Tân Cảnh, Tân Phong, Tân Ninh…Đi tới đâu, ghé thăm nhà nào cũng không thấy bóng dáng các chú chó như ở những vùng quê khác.Theo các vị cao niên trong làng kể lại thì ở xã này, từ mấy chục năm rồi không nuôi chó, xuất phát từ việc một số người dân trong làng bị chó nuôi phát bệnh dại cắn dẫn đến tử vong. Cụ Đào Thị Thuyết (85 tuổi, ngụ xóm Tân Châu) nhớ lại: “Cũng như nhiều nơi khác, ngày xưa nhà nào cũng nuôi chó để giữ nhà. Năm 1962, bệnh dại bùng phát trên đàn chó nuôi. Chó dại cắn cụ cố Phiên trong xóm và một số người khác. Do không được chữa trị kịp thời, tất cả họ đều chết. Lo sợ bệnh dại nên từ đó người dân trong xóm, xã thống nhất với nhau không nuôi chó nữa”.
Một lý do khác mà người dân xã Diễn Nguyên đã hơn 50 năm nay nói không với việc nuôi chó là do chó thả rông phóng uế khắp đường làng, ngõ xóm làm mất vệ sinh và có khi dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, mất tình cảm giữa hàng xóm láng giềng với nhau. Cụ Nguyễn Văn Hồng (90 tuổi, xóm Tân Châu) lý giải: “Nhà nào cũng nuôi 2-3 con chó, cứ thấy người lạ là lao ra cắn. Muốn đi thăm anh em, làng xóm nhưng nghĩ tới cảnh đàn chó dữ là sợ không dám sang nhà chơi. Nuôi chó đúng như cha ông mình vẫn nói “chó dữ mất láng giềng”.Cũng theo cụ Hồng, từ khi xóm làng không nuôi chó thì người già ra đường không sợ chó cắn, trẻ nhỏ đêm, ngày ngủ ngon giấc bởi không bị giật mình do tiếng chó sủa.
Hương ước kỳ lạÔng Nguyễn Bội (87 tuổi, ngụ xóm 7, nguyên Chủ tịch UBND xã đầu tiên của xã Diễn Nguyên) nhớ lại: Sau đợt chó dại cắn làm nhiều người chết, dân làng thống nhất với nhau là xử lý toàn bộ số chó còn sống đồng thời đặt ra hương ước không nuôi chó, ai nuôi sẽ bị phạt. Từ đó tới nay đã trên 50 năm, người dân trong xã không ai bảo ai nhưng đều chấp hành hương ước này một cách nghiêm túc.
Ông Trần Ngọc Sanh, Phó Chủ tịch UBND xã Diễn Nguyên, cho biết: “Hương ước về việc không nuôi chó có từ những năm 1960 cho đến nay, người dân trong xã đều thực hiện nghiêm túc. Không nuôi chó, vệ sinh môi trường trên địa bàn xã luôn sạch sẽ, người dân không còn lo sợ bệnh dại, không có nạn trộm chó”.
Cũng theo ông Sanh, việc đưa ra hương ước không nuôi chó là hoàn toàn tự nguyện, người dân có quyền quyết định việc nuôi hay không nuôi. “Luật pháp không cấm nuôi chó, mới đây, một số người dân có ý kiến về việc này nên chúng tôi đã tổ chức lấy ý kiến và có đến 80% người dân đồng tình với việc không nuôi chó”.
Ông Ngô Quốc Khánh, Công an xã Diễn Nguyên, cho biết nhiều người lo ngại nếu không nuôi chó thì nạn trộm cắp sẽ hoành hành, tuy nhiên tại xã Diễn Nguyên, tình hình an ninh trên địa bàn trong những năm qua rất ổn định. “Ngoài ra, do người dân không nuôi chó nên không xảy ra nạn bắt trộm chó như nhiều địa phương khác” - ông Khánh cho hay.
Làng không ăn thịt chó
Đã hơn 15 năm nay, người dân làng Phú Dương, xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam không ăn thịt chó. Ông Nguyễn Văn Thìn, Trưởng thôn Phú Dương, cho biết trước đây, người làng cũng ăn thịt chó như các địa phương khác nhưng sau cái chết thảm khốc của một phụ nữ trong làng thì người dân trong thôn đã cạch món này cho đến nay. Ông Thìn kể: Năm 1999, bà Nguyễn Thị Đ. lên ngọn núi Gò Thị đốn củi từ sáng sớm đến chiều tối vẫn không thấy về. Cả gia đình và chính quyền địa phương tổ chức đi tìm nhiều ngày liên tục.
< Người dân Phú Dương nuôi chó nhưng chẳng bao giờ giết thịt ăn.
Sau 1 tuần, thi thể bà Đ. được phát hiện nằm trong một đám mía nhưng không còn nguyên vẹn, chỉ còn lại phần đầu và một phần xương chân. Trong khi gia đình tổ chức lễ tang cho bà Đ. thì nhiều người dân trong làng phát hoảng bởi những khúc xương của bà Đ. bị chó mang về nhà. Sự việc này khiến người dân trong làng hết sức kinh hãi, ám ảnh.
Bà Lê Thị Hòa (70 tuổi) rùng mình: “Kể từ thời điểm đó đến nay, tôi không bao giờ đụng đến miếng thịt chó, con cháu tôi cũng chẳng bao giờ ăn. Người dân ở đây vẫn nuôi chó nhưng không bao giờ giết thịt, chó có thể bán hoặc chết thì đem chôn”.
Ông Bùi Tuần, Chủ tịch UBND xã Quế Thuận, xác nhận chuyện người dân thôn Phú Dương không ăn thịt chó là có thật. “Chuyện này xuất phát từ cái chết của bà Đ. cách đây cũng đã lâu mà đến nay dường như đã trở thành thói quen. Không những thôn Phú Dương, một số thôn lân cận cũng như vậy” - ông Tuần cho hay.
Theo Đức Ngọc, Tr Thường (Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Pa'nanh, vũ khí đánh giặc của người Cơtu
(DVO) - Từ ngày xưa, người Cơ Tu ở vùng núi Quảng Nam luôn xem chiếc ná (pa'nanh - nỏ) là vật dụng không thể thiếu trong hoạt động săn bắt thú rừng bảo vệ làng bản mà nó còn là thứ vũ khí chống giặc xâm lăng.
Được biết, từ dạo đồng bào Cơ Tu còn ở nhà sàn, ngoài công việc làm rẫy, săn thú rừng thì chiếc ná là vũ khí lợi hại của những người đàn ông Cơ Tu giữ đất, giữ làng, chống giặc ngoại xâm. Và cho đến hôm nay, đồng bào Cơ Tu dù đã có cuộc sống khấm khá hơn, nhưng chiếc ná vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào nơi đây.
Người Cơ Tu quan niệm cho rằng, bất kỳ đàn ông nào trong làng không biết sử dụng ná (pa'nanh) thì coi như chưa trưởng thành, những người bắn ná giỏi nhất rất được kính trọng.
Được biết với người Cơ Tu, chiếc ná là một vật dụng hết sức thiêng liêng, tượng trưng cho khả năng chinh phục thiên nhiên và sức mạnh của người đàn ông Cơ Tu. Chiếc ná (pa'nanh) lưu giữ nhiều giá trị tinh thần của người Cơ Tu nên được các lão làng vẫn miệt mài chế tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu săn bắn.
Xưa kia, người Cơ Tu sống ở vùng rừng núi, hồi đó còn nhiều thú dữ nên phải sống ở nhà sàn, đi rừng, lên nương đều luôn mang theo ná và các vũ khí khác để phòng thân và săn thú chống lại sự phá hoa màu mà lại có thêm thức ăn cho gia đình. Ngay cả trẻ con và phụ nũa cũng sớm được làm quen với ná, tên và được người lớn đưa đi rừng.
Ná của người Cơ Tu thường có hai loại, phân biệt dựa theo chiều dài của cánh ná. Cũng dựa vào đó mà sẽ có mũi tên thích hợp cho từng loại. Thân ná được làm gỗ cứng như: rọi, cẩm lai. Cánh ná thì sử dụng các loại gỗ có tính đàn hồi như gỗ cau.
Ngày xưa, để làm một cây ná phải mất hàng tháng. Phải vào rừng tìm cây, rồi đánh dấu lại, đến một thời gian nhất định trong tháng mới đến đốn, vì khi đó chất gỗ sẽ săn chắc hơn tại có mùa gỗ bị mọt ăn, gẩy. Gỗ sau khi đốn được đem về đẵn ra thành từng bộ phận riêng biệt, rồi dùng một con dao mác nhỏ bằng ngón tay đẽo kỹ lại, công đoạn này phải mất ít nhất cả tháng.
Với người đàn ông Cơ Tu, họ đều luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ nét văn hóa truyền thống của cộng đồng, trong đó có chiếc ná (pa'nanh) và truyền cho các thế hệ sau để lưu giữ nét xưa.
Hằng năm, đồng bào Cơ Tu còn tổ chức các lễ hội ăn mừng lúa mới, tổ chức khánh thành Gươl mới của làng... Qua đó thường lồng các hoạt động như: thi bắn ná, thi chế tác ná để con cháu về sau hiểu hơn về nét văn hóa này.
Theo Nguyễn Văn Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Read More
Được biết, từ dạo đồng bào Cơ Tu còn ở nhà sàn, ngoài công việc làm rẫy, săn thú rừng thì chiếc ná là vũ khí lợi hại của những người đàn ông Cơ Tu giữ đất, giữ làng, chống giặc ngoại xâm. Và cho đến hôm nay, đồng bào Cơ Tu dù đã có cuộc sống khấm khá hơn, nhưng chiếc ná vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào nơi đây.
Người Cơ Tu quan niệm cho rằng, bất kỳ đàn ông nào trong làng không biết sử dụng ná (pa'nanh) thì coi như chưa trưởng thành, những người bắn ná giỏi nhất rất được kính trọng.Được biết với người Cơ Tu, chiếc ná là một vật dụng hết sức thiêng liêng, tượng trưng cho khả năng chinh phục thiên nhiên và sức mạnh của người đàn ông Cơ Tu. Chiếc ná (pa'nanh) lưu giữ nhiều giá trị tinh thần của người Cơ Tu nên được các lão làng vẫn miệt mài chế tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu săn bắn.
Xưa kia, người Cơ Tu sống ở vùng rừng núi, hồi đó còn nhiều thú dữ nên phải sống ở nhà sàn, đi rừng, lên nương đều luôn mang theo ná và các vũ khí khác để phòng thân và săn thú chống lại sự phá hoa màu mà lại có thêm thức ăn cho gia đình. Ngay cả trẻ con và phụ nũa cũng sớm được làm quen với ná, tên và được người lớn đưa đi rừng.
Ná của người Cơ Tu thường có hai loại, phân biệt dựa theo chiều dài của cánh ná. Cũng dựa vào đó mà sẽ có mũi tên thích hợp cho từng loại. Thân ná được làm gỗ cứng như: rọi, cẩm lai. Cánh ná thì sử dụng các loại gỗ có tính đàn hồi như gỗ cau.
Ngày xưa, để làm một cây ná phải mất hàng tháng. Phải vào rừng tìm cây, rồi đánh dấu lại, đến một thời gian nhất định trong tháng mới đến đốn, vì khi đó chất gỗ sẽ săn chắc hơn tại có mùa gỗ bị mọt ăn, gẩy. Gỗ sau khi đốn được đem về đẵn ra thành từng bộ phận riêng biệt, rồi dùng một con dao mác nhỏ bằng ngón tay đẽo kỹ lại, công đoạn này phải mất ít nhất cả tháng.
Với người đàn ông Cơ Tu, họ đều luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ nét văn hóa truyền thống của cộng đồng, trong đó có chiếc ná (pa'nanh) và truyền cho các thế hệ sau để lưu giữ nét xưa.
Hằng năm, đồng bào Cơ Tu còn tổ chức các lễ hội ăn mừng lúa mới, tổ chức khánh thành Gươl mới của làng... Qua đó thường lồng các hoạt động như: thi bắn ná, thi chế tác ná để con cháu về sau hiểu hơn về nét văn hóa này.
Theo Nguyễn Văn Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Thượng Minh mùa 'hoa lửa'
(TQO) - Đến trung tâm xã Hồng Quang (Chiêm Hóa), hỏi thăm thôn Thượng Minh còn bao xa, một vài người dân chỉ tay vào con dốc ngoằn ngoèo: “Cứ đi, gần một giờ nữa”. “Gần một giờ” hệt như cái “quăng dao” mà ngày trước đồng bào miền núi vẫn thường nói. Vậy là, việc tìm hiểu về lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn đã được hé mở từ một chuyện như thế.
Vùng đất có câu chuyện huyền bí
Con đường đất rộng chừng 3 m, dài gần 10 cây số với những dốc, đèo quanh co đưa chúng tôi đến với thôn Thượng Minh. Phải loay hoay mất gần 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vào được đến thôn. Dựng chân chống xe cũng là lúc trên người lấm lem bùn đất, chúng tôi gặp một người đàn ông để hỏi thăm nhà ông thầy cúng nhảy lửa.
Nhìn thấy bộ dạng chúng tôi, anh huơ tay nói giọng lơ lớ: “15 năm về trước, để ra, vào thôn, bọn anh luôn phải đi men theo những bờ ruộng, con suối. Hồi đó chưa có đường nên xe đạp cũng chịu thôi, dân ở đây một là cưỡi trâu, hai là đi bộ. Bây giờ bọn em được cưỡi xe máy vào đây là quá được rồi”. Người đàn ông ấy là Phù Văn Chi, người thôn Thượng Minh.
Khách đến thôn liên hệ công việc, muốn nhanh chóng đều phải qua nhà bà Bàn Thị Tài, Bí thư chi bộ thôn. Bà Tài có dáng người cao, đậm, giọng nói sang sảng như đàn ông. Bà Tài cho biết, Thượng Minh là thôn vùng cao của huyện Chiêm Hóa, có ranh giới giáp với tỉnh Hà Giang. Thôn có 136 hộ, 656 nhân khẩu với 6 dân tộc, gồm: Pà Thẻn, Mông, Dao tiền, Tày, Nùng, Thủy, trong đó dân tộc Pà Thẻn đông nhất có gần 400 người. Mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng, nhưng đặc biệt, dân tộc Pà Thẻn, có lễ hội nhảy lửa rất độc đáo mà không một dân tộc nào có.
Ông thầy cúng tên là Húng Văn Hin, dân tộc Pà Thẻn. Nhà ông Hin nằm trên một quả đồi thấp cùng với hơn chục nhà khác. Năm nay ông 70 tuổi nhưng đã đi học làm thầy cúng từ năm 16 tuổi nên rất có uy tín. Ông Hin lấy ra một thanh gỗ dài khoảng 4 gang tay, trên đó có gắn miếng sắt dọc theo chiều dài thân thanh gỗ và một thanh tre nhỏ có vải màu đỏ quấn ở một đầu, ông gọi hai thứ ấy là “pạn dơ”. “Đó là tiếng Pà Thẻn đấy, nhưng nó cũng chẳng có nghĩa gì cả.
Từ khi tôi được đẻ ra, chỉ biết ông bà tôi gọi thế nên gọi theo. Cái này dùng trong lễ hội nhảy lửa, để cúng mời thánh ở trên trời xuống đấy”. Ông kể, thầy làm lễ mặc quần áo, mũ cúng, cắm chặt “pạn dơ” vào một đầu ghế băng, rồi cứ dùng thanh tre quấn vải đỏ mà gõ vào đó, miệng thì lẩm nhẩm khấn. Thông thường, việc chuẩn bị phải bắt đầu trước lễ nhảy lửa khoảng vài tiếng đồng hồ. Lễ vật cúng trong lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn rất đơn sơ, gồm một bát hương nhỏ, một con gà luộc, chục chén rượu trắng, vài ôm củi gỗ rừng để đốt thành than hồng. Phụ nữ và trẻ em ít tuổi chỉ được xem, không được tham gia nhảy lửa. Trước mỗi buổi lễ, thầy cúng phải làm lễ để thần linh cho phép người Pà Thẻn có được sức mạnh phi thường nhảy vào đống lửa.
Phần làm lễ này kéo dài hơn một tiếng, có khi vài tiếng đồng hồ. Khi trời tối, đống củi sẽ được đốt cháy tạo thành đống than đỏ rực. Những người đàn ông Pà Thẻn tụ tập quanh thầy cúng, nghe tiếng thầy khấn và tiếng gõ của “pạn dơ” mỗi lúc một gấp gáp. Sau đó, thân mình thầy cúng và những người đàn ông tự nhiên rung lên bần bật. Anh Phù Văn Chung, người đàn ông đã từng nhảy lửa ở thôn nói rằng, lúc đó trong anh như có sức mạnh phi thường, sau khi thầy cúng làm lễ, anh nhảy cả hai chân vào đống than đỏ rực, bốc than tung lên như những chùm hoa lửa, nhưng không cảm thấy nóng và cũng không hề bị bỏng.
Sức sống của một lễ hội
Ông Hin nói rằng, nhảy lửa có từ khi người Pà Thẻn được sinh ra. Nhưng người Pà Thẻn có từ khi nào thì cũng không ai được rõ, chỉ biết là có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đến nay, dân tộc Pà Thẻn chỉ sống tập trung ở huyện Bắc Quang, Quang Bình (Hà Giang) và thôn Thượng Minh (Chiêm Hoá).
Với người Pà Thẻn, lửa được coi như vị thần rất linh thiêng của họ. Nhảy lửa thường được tổ chức vào cuối năm, khi thời tiết đang bước vào thời kỳ khắc nghiệt nhất của mùa đông. Lửa sẽ giúp mang lại cho đồng bào Pà Thẻn sự ấm áp, mừng cho một vụ thu hoạch hoa màu vừa kết thúc, cầu thần linh phù hộ cho dân an vật thịnh và xua đuổi tà ma, đẩy lùi bệnh tật.
Nhảy lửa là sinh hoạt văn hóa mang tính chất tâm linh, thể hiện một sức mạnh phi thường của những người đàn ông Pà Thẻn muốn chinh phục thiên nhiên, làm chủ cuộc sống. Đời này qua đời khác, lễ hội nhảy lửa đã trở thành tục lệ không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Pà Thẻn. Có thể nói, tuy còn mang màu sắc tâm linh và huyền bí, nhưng lễ hội nhảy lửa truyền thống của dân tộc Pà Thẻn là kết quả từ lao động. Đây là sinh hoạt tinh thần hết sức phong phú và độc đáo của dân tộc Pà Thẻn, chứa đựng những giá trị văn hóa đậm nét của miền sơn cước.
Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các dự án bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đang dần tạo điều kiện cho các phong tục tập quán mang đậm bản sắc của các dân tộc được phát huy. Trong đó, người dân thôn Thượng Minh, đặc biệt là đồng bào dân tộc Pà Thẻn đang sinh sống ở đây có cơ hội được khôi phục, thưởng thức và tham gia lễ hội truyền thống của dân tộc mình. Con trẻ sẽ lại được chiêm ngưỡng những bước nhảy đầy khí thế, thể hiện lòng dũng cảm, sự phi thường của cha anh mình, điều mà chúng chưa bao giờ được biết đến từ khi sinh ra. Cuối năm 2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với huyện Chiêm Hóa tổ chức khôi phục lại lễ hội nhảy lửa của đồng bào dân tộc Pà Thẻn thôn Thượng Minh.
Gần 30 năm kể từ lần đầu tiên ông Húng Văn Hin gõ vào chiếc “pạn dơ” trong cuộc đời làm thầy của mình, thì đến năm ấy, trong cái giá rét của mùa đông, ông lại được làm lại cái điều thiêng liêng đó để cầu xin thần linh trên trời phù hộ cho bà con dân bản có được cuộc sống no ấm, ban cho con cháu Pà Thẻn có sức khỏe để chiến thắng bệnh tật, chăm lo lao động, xua đi cái nghèo. Chưa hết, áp Tết Tân Mão năm 2011, một lần nữa, những chùm “hoa lửa” ở Thượng Minh lại có dịp nở bừng lên. Từ đây, chắc chắn nhiều người trong và ngoài tỉnh sẽ biết đến một thôn vùng cao có dân tộc Pà Thẻn sinh sống, một lễ hội có đủ sức quyến rũ để níu chân du khách.
Theo Việt Hòa (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Read More
Vùng đất có câu chuyện huyền bí
Con đường đất rộng chừng 3 m, dài gần 10 cây số với những dốc, đèo quanh co đưa chúng tôi đến với thôn Thượng Minh. Phải loay hoay mất gần 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vào được đến thôn. Dựng chân chống xe cũng là lúc trên người lấm lem bùn đất, chúng tôi gặp một người đàn ông để hỏi thăm nhà ông thầy cúng nhảy lửa.
Nhìn thấy bộ dạng chúng tôi, anh huơ tay nói giọng lơ lớ: “15 năm về trước, để ra, vào thôn, bọn anh luôn phải đi men theo những bờ ruộng, con suối. Hồi đó chưa có đường nên xe đạp cũng chịu thôi, dân ở đây một là cưỡi trâu, hai là đi bộ. Bây giờ bọn em được cưỡi xe máy vào đây là quá được rồi”. Người đàn ông ấy là Phù Văn Chi, người thôn Thượng Minh.
Khách đến thôn liên hệ công việc, muốn nhanh chóng đều phải qua nhà bà Bàn Thị Tài, Bí thư chi bộ thôn. Bà Tài có dáng người cao, đậm, giọng nói sang sảng như đàn ông. Bà Tài cho biết, Thượng Minh là thôn vùng cao của huyện Chiêm Hóa, có ranh giới giáp với tỉnh Hà Giang. Thôn có 136 hộ, 656 nhân khẩu với 6 dân tộc, gồm: Pà Thẻn, Mông, Dao tiền, Tày, Nùng, Thủy, trong đó dân tộc Pà Thẻn đông nhất có gần 400 người. Mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng, nhưng đặc biệt, dân tộc Pà Thẻn, có lễ hội nhảy lửa rất độc đáo mà không một dân tộc nào có.
Ông thầy cúng tên là Húng Văn Hin, dân tộc Pà Thẻn. Nhà ông Hin nằm trên một quả đồi thấp cùng với hơn chục nhà khác. Năm nay ông 70 tuổi nhưng đã đi học làm thầy cúng từ năm 16 tuổi nên rất có uy tín. Ông Hin lấy ra một thanh gỗ dài khoảng 4 gang tay, trên đó có gắn miếng sắt dọc theo chiều dài thân thanh gỗ và một thanh tre nhỏ có vải màu đỏ quấn ở một đầu, ông gọi hai thứ ấy là “pạn dơ”. “Đó là tiếng Pà Thẻn đấy, nhưng nó cũng chẳng có nghĩa gì cả.
Từ khi tôi được đẻ ra, chỉ biết ông bà tôi gọi thế nên gọi theo. Cái này dùng trong lễ hội nhảy lửa, để cúng mời thánh ở trên trời xuống đấy”. Ông kể, thầy làm lễ mặc quần áo, mũ cúng, cắm chặt “pạn dơ” vào một đầu ghế băng, rồi cứ dùng thanh tre quấn vải đỏ mà gõ vào đó, miệng thì lẩm nhẩm khấn. Thông thường, việc chuẩn bị phải bắt đầu trước lễ nhảy lửa khoảng vài tiếng đồng hồ. Lễ vật cúng trong lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn rất đơn sơ, gồm một bát hương nhỏ, một con gà luộc, chục chén rượu trắng, vài ôm củi gỗ rừng để đốt thành than hồng. Phụ nữ và trẻ em ít tuổi chỉ được xem, không được tham gia nhảy lửa. Trước mỗi buổi lễ, thầy cúng phải làm lễ để thần linh cho phép người Pà Thẻn có được sức mạnh phi thường nhảy vào đống lửa.
Phần làm lễ này kéo dài hơn một tiếng, có khi vài tiếng đồng hồ. Khi trời tối, đống củi sẽ được đốt cháy tạo thành đống than đỏ rực. Những người đàn ông Pà Thẻn tụ tập quanh thầy cúng, nghe tiếng thầy khấn và tiếng gõ của “pạn dơ” mỗi lúc một gấp gáp. Sau đó, thân mình thầy cúng và những người đàn ông tự nhiên rung lên bần bật. Anh Phù Văn Chung, người đàn ông đã từng nhảy lửa ở thôn nói rằng, lúc đó trong anh như có sức mạnh phi thường, sau khi thầy cúng làm lễ, anh nhảy cả hai chân vào đống than đỏ rực, bốc than tung lên như những chùm hoa lửa, nhưng không cảm thấy nóng và cũng không hề bị bỏng.
Sức sống của một lễ hội
Ông Hin nói rằng, nhảy lửa có từ khi người Pà Thẻn được sinh ra. Nhưng người Pà Thẻn có từ khi nào thì cũng không ai được rõ, chỉ biết là có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đến nay, dân tộc Pà Thẻn chỉ sống tập trung ở huyện Bắc Quang, Quang Bình (Hà Giang) và thôn Thượng Minh (Chiêm Hoá).
Với người Pà Thẻn, lửa được coi như vị thần rất linh thiêng của họ. Nhảy lửa thường được tổ chức vào cuối năm, khi thời tiết đang bước vào thời kỳ khắc nghiệt nhất của mùa đông. Lửa sẽ giúp mang lại cho đồng bào Pà Thẻn sự ấm áp, mừng cho một vụ thu hoạch hoa màu vừa kết thúc, cầu thần linh phù hộ cho dân an vật thịnh và xua đuổi tà ma, đẩy lùi bệnh tật.
Nhảy lửa là sinh hoạt văn hóa mang tính chất tâm linh, thể hiện một sức mạnh phi thường của những người đàn ông Pà Thẻn muốn chinh phục thiên nhiên, làm chủ cuộc sống. Đời này qua đời khác, lễ hội nhảy lửa đã trở thành tục lệ không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Pà Thẻn. Có thể nói, tuy còn mang màu sắc tâm linh và huyền bí, nhưng lễ hội nhảy lửa truyền thống của dân tộc Pà Thẻn là kết quả từ lao động. Đây là sinh hoạt tinh thần hết sức phong phú và độc đáo của dân tộc Pà Thẻn, chứa đựng những giá trị văn hóa đậm nét của miền sơn cước.
Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các dự án bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đang dần tạo điều kiện cho các phong tục tập quán mang đậm bản sắc của các dân tộc được phát huy. Trong đó, người dân thôn Thượng Minh, đặc biệt là đồng bào dân tộc Pà Thẻn đang sinh sống ở đây có cơ hội được khôi phục, thưởng thức và tham gia lễ hội truyền thống của dân tộc mình. Con trẻ sẽ lại được chiêm ngưỡng những bước nhảy đầy khí thế, thể hiện lòng dũng cảm, sự phi thường của cha anh mình, điều mà chúng chưa bao giờ được biết đến từ khi sinh ra. Cuối năm 2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với huyện Chiêm Hóa tổ chức khôi phục lại lễ hội nhảy lửa của đồng bào dân tộc Pà Thẻn thôn Thượng Minh.
Gần 30 năm kể từ lần đầu tiên ông Húng Văn Hin gõ vào chiếc “pạn dơ” trong cuộc đời làm thầy của mình, thì đến năm ấy, trong cái giá rét của mùa đông, ông lại được làm lại cái điều thiêng liêng đó để cầu xin thần linh trên trời phù hộ cho bà con dân bản có được cuộc sống no ấm, ban cho con cháu Pà Thẻn có sức khỏe để chiến thắng bệnh tật, chăm lo lao động, xua đi cái nghèo. Chưa hết, áp Tết Tân Mão năm 2011, một lần nữa, những chùm “hoa lửa” ở Thượng Minh lại có dịp nở bừng lên. Từ đây, chắc chắn nhiều người trong và ngoài tỉnh sẽ biết đến một thôn vùng cao có dân tộc Pà Thẻn sinh sống, một lễ hội có đủ sức quyến rũ để níu chân du khách.
Theo Việt Hòa (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!
Bản đa thê và chuyện '3 vợ, một giường'
(VTC) - Ông Lầu A Xá, cán bộ tư pháp xã Xa Dung (Điện Biên Đông, Điện Biên), cho biết: Xã tôi cũng có nhiều người lấy hai vợ đấy. Biết rằng lấy hai vợ là vi phạm pháp luật nhưng xã bất lực ngăn chặn.
"Mình đẹp trai kéo vợ hai dễ lắm!"
Xã Xa Dung nằm cách trung tâm huyện Điện Biên Đông khoảng 30km. Chuẩn bị cuộc hành trình, chúng tôi vào trạm xăng nạp nhiên liệu cho con “ngựa sắt” Wave Alpha thì được một người bản địa thốt lên: “Các anh có bị điên không? Lên Xa Dung mà đi xe này chỉ có khóc dọc đường. Nắng lên thì may chạy được mấy đoạn xuống dốc, còn mưa xuống đừng nói đi mà đẩy cũng chẳng xong". Rồi anh ta khuyên nên thuê chiếc xe Win may ra bò lên được. Nghe vậy, đành đổi "ngựa".
Rời trung tâm huyện chừng được 3km, y rằng lời nói người bản địa đúng thật. Trước mặt chúng tôi là con đường cấp phối rộng chừng 3m, đất đá lổm chổm hết lên dốc rồi đổ đèo. Ông Vừa Xô Dày, Chủ tịch UBND xã Xa Dung, vui vẻ: “Các chú khá đấy chứ. Người dân bản địa mỗi lần xuôi xuống huyện đã ngán nhưng các chú lên được tận đây”.
Gặp ông hỏi về đời sống kinh tế bà con xã thế nào, ông liền than: “Ở xã có 20 bản, trong đó người Mông (chiếm 80%) và người Thái (20%) sinh sống. Nhưng tình trạng đẻ nhiều khiến cuộc sống các hộ gia đình thiếu ăn thường xuyên. Đặc biệt, phong tục đa thê xẩy ra. Bởi người Mông có quan niệm “mười gái chẳng bằng một trai”. Do đó, kéo tụt mọi thành quả, nỗ lực thoát nghèo của chính quyền xã”.
Cầm tờ giấy, ông Lầu A Xá, cán bộ tư pháp xã thống kê, Xa Dung có 8 người đàn ông lấy hai vợ, ba vợ. Ông Xá phân trần: “Biết lấy hai vợ là vi phạm pháp luật nhưng xã bất lực ngăn chặn. Từ bao đời này người Mông có phong tục vợ cả không có con trai thì lén lút cưới vợ hai về “thi đẻ” với vợ cả kiếm con trai nối dõi”.
Để mục sở thị những người đàn ông đa thê, chúng tôi tìm đến ông Chá Già Lử (48 tuổi, bản Xa Dung B). Gặp ông, chúng tôi đùa: “Bọn em đến gặp bác học hỏi kinh nghiệm về dưới xuôi lấy hai vợ”. Nghe xong ông đáp: “Mình ưng thì lấy thôi, ở đây mình lấy vợ công khai mà. Hai vợ ngủ chung, ăn chung, làm chung một nương hết nhưng cơm lành canh ngọt”.
Ông Lử kể, khi mới 18 tuổi ông theo đám thanh niên trong bản đi chơi và kéo bà Mùa Thị Tùng (bản Chua Ta, Mường Lạn, Tuần Giáo, Điện Biên) về. Ở với nhau 5 năm, bà Tùng sinh cho ông 3 đứa con gái thì “tịt đẻ” luôn. “Người Mông không sợ đói, chỉ sợ không có con trai thôi. Mình đang khoẻ mạnh, đẹp trai thì kéo vợ hai dễ lắm”, ông Lử tâm sự.
Đã có với bà cả 3 đứa con, nhưng ông Lử phải lòng bà Vừa Thị Khua (SN 1964) ở cùng bản. Bà Khua đã có hai đứa con, chồng chết sớm. Từ đó, cứ ba năm hai đứa, trong vòng 15 năm bà Khua sinh cho ông 5 đứa con (2 trai 3 gái).
Lấy hai vợ, có được con trai nhưng gánh nặng cơm áo, gạo tiền đè lên đầu ông Lử. Trước đây, ông là người giàu có nhất bản nhưng nay ông “tụt hạng” do đàn con đông đúc, chưa hết mùa đã chạy ăn từng bữa. “Trước đây nhà mình nuôi nhiều trâu lắm, lúa ngô không lúc nào thiếu. Từ khi cưới vợ hai về đàn con thi nhau ra đời, chúng không có gì ăn khóc cả ngày. Để có cái bỏ miệng mình bán dần mọi thứ nay đã hết. Nhà nghèo, thiếu ăn và 10 người con đẻ và hai đứa con của vợ hai đang tuổi ăn học nhưng phải nghỉ để lên nương”, ông Lử buồn bã.
Ba vợ một giường
Với người Mông ở bản Xa Dung A, tiêu biểu trong chuyện “đa thê” phải kể đến ông Lầu Chứ Di đã lập nên “chiến tích” có 3 vợ và 8 đứa con. Đặc biệt, bao nhiêu năm chung sống nhưng chưa bao giờ ba bà có một cuộc “chiến tranh lạnh” hay tranh giành “gần gũi” với chồng.
Tìm đến nhà ông Di, từ già tới trẻ, ai cũng chỉ đường vanh vách. Và bất cứ ai sau khi nhiệt tình chỉ dẫn đều tủm tỉm hỏi lại: “Cán bộ dưới xuôi lên ạ! Đến khuyên con cháu ông Di và dòng họ Lầu đừng lấy nhiều vợ như ông đúng không?”.
Năm nay, ông Di đã bước sang tuổi 60. Vào năm 18 tuổi, ông Di kéo bà Chá Thị Dua (SN 1956) về làm vợ. Lấy nhau về được 3 năm thì bà Dua sinh cho ông hai đứa con gái và “tịt đẻ”. Không có con trai, họ hàng lên tiếng phải kéo thêm vợ hai về đẻ để kiếm con trai nối dõi. Ông Di là trưởng họ Lầu nên dứt khoát phải có con trai vì thế ông Di tiếp tục đi kéo thêm vợ nữa. Vào năm 1972, sau nhiều ngày tán tỉnh, cô Chá Thị Mỵ (SN 1965) ở cùng bản đã ưng cái bụng. Nhưng sau đó, cái miệng “dẻo” của ông Di khiến bà Sồng Thị Mỵ (SN 1963) dính vào lưới tình. Rồi họ đẻ cho ông 8 người con (3 trai 5 gái).
Tự hào về “chiến tích” có 3 vợ, ông Di tâm sự: “Để có nhiều vợ điều quan trọng là cái miệng. Mình có nhiều lúa, lắm trâu gì đâu, trong lúc có hai vợ nhưng mình nói chuyện hay các cô gái nghe lọt tai, cứ thế theo mình về làm vợ hết”. Tôi buột miệng hỏi: “Việc ông cưới ba vợ chính quyền xã họ có ý kiến gì không?". Ông Di nhanh nhảu đáp: “Biết làm sao được, ngày trước vợ mình có bao giờ ra ngoài đâu”.
Trong số ba bà thì chỉ có bà vợ cả do bố mẹ ông Di cưới có thủ tục đăng ký kết hôn đàng hoàng. Hai bà còn lại ông đều cưới “chui” hoặc cứ đến sinh sống với nhau như vợ chồng. Điều ấy dân bản biết hết và sau này chính quyền biết. Thế nhưng xã không có biện pháp ngăn chặn.
Khi hỏi ông làm sao mà để các bà không cãi nhau, tranh chồng thì ông cười: “Quan trọng là ở mình biết giáo dục chứ. Nếu biết cách thì mấy vợ cũng được hết". Rồi ông vui cười: “Ngày trước còn ở một nhà, đêm nào ba bà cũng nằm chung một giường nhưng chẳng bà nào ghen tị bà nào cả. Ba bà cùng các con ăn một mâm, ngủ cùng chồng và đi làm một nương. Lịch “gần gũi” ba bà cũng được tôi phân công rõ ràng. Theo phương thức xoay vòng, mỗi bà một ngày đêm, tuyệt đối không ai vi phạm”.
Chào ông Di ra về, ông còn đùa rằng: “Tôi xem trên phim thấy người dưới xuôi muốn lấy vợ hai kiếm con trai mà lén lút “cặp bồ” rồi mua nhà to cho bồ ở. Và cảnh người vợ cả đi tìm bồ của chồng đánh đập, có nhiều người còn giết nhau nữa. Ở đây, người Mông chúng tôi không thế đâu, ba vợ mà vẫn sống hạnh phúc, hoà thuận”.
Theo Đắc Thành - VTC New
Du lịch, GO!
Read More
"Mình đẹp trai kéo vợ hai dễ lắm!"
Xã Xa Dung nằm cách trung tâm huyện Điện Biên Đông khoảng 30km. Chuẩn bị cuộc hành trình, chúng tôi vào trạm xăng nạp nhiên liệu cho con “ngựa sắt” Wave Alpha thì được một người bản địa thốt lên: “Các anh có bị điên không? Lên Xa Dung mà đi xe này chỉ có khóc dọc đường. Nắng lên thì may chạy được mấy đoạn xuống dốc, còn mưa xuống đừng nói đi mà đẩy cũng chẳng xong". Rồi anh ta khuyên nên thuê chiếc xe Win may ra bò lên được. Nghe vậy, đành đổi "ngựa".
Rời trung tâm huyện chừng được 3km, y rằng lời nói người bản địa đúng thật. Trước mặt chúng tôi là con đường cấp phối rộng chừng 3m, đất đá lổm chổm hết lên dốc rồi đổ đèo. Ông Vừa Xô Dày, Chủ tịch UBND xã Xa Dung, vui vẻ: “Các chú khá đấy chứ. Người dân bản địa mỗi lần xuôi xuống huyện đã ngán nhưng các chú lên được tận đây”.
Gặp ông hỏi về đời sống kinh tế bà con xã thế nào, ông liền than: “Ở xã có 20 bản, trong đó người Mông (chiếm 80%) và người Thái (20%) sinh sống. Nhưng tình trạng đẻ nhiều khiến cuộc sống các hộ gia đình thiếu ăn thường xuyên. Đặc biệt, phong tục đa thê xẩy ra. Bởi người Mông có quan niệm “mười gái chẳng bằng một trai”. Do đó, kéo tụt mọi thành quả, nỗ lực thoát nghèo của chính quyền xã”.
Cầm tờ giấy, ông Lầu A Xá, cán bộ tư pháp xã thống kê, Xa Dung có 8 người đàn ông lấy hai vợ, ba vợ. Ông Xá phân trần: “Biết lấy hai vợ là vi phạm pháp luật nhưng xã bất lực ngăn chặn. Từ bao đời này người Mông có phong tục vợ cả không có con trai thì lén lút cưới vợ hai về “thi đẻ” với vợ cả kiếm con trai nối dõi”.
Để mục sở thị những người đàn ông đa thê, chúng tôi tìm đến ông Chá Già Lử (48 tuổi, bản Xa Dung B). Gặp ông, chúng tôi đùa: “Bọn em đến gặp bác học hỏi kinh nghiệm về dưới xuôi lấy hai vợ”. Nghe xong ông đáp: “Mình ưng thì lấy thôi, ở đây mình lấy vợ công khai mà. Hai vợ ngủ chung, ăn chung, làm chung một nương hết nhưng cơm lành canh ngọt”.
Ông Lử kể, khi mới 18 tuổi ông theo đám thanh niên trong bản đi chơi và kéo bà Mùa Thị Tùng (bản Chua Ta, Mường Lạn, Tuần Giáo, Điện Biên) về. Ở với nhau 5 năm, bà Tùng sinh cho ông 3 đứa con gái thì “tịt đẻ” luôn. “Người Mông không sợ đói, chỉ sợ không có con trai thôi. Mình đang khoẻ mạnh, đẹp trai thì kéo vợ hai dễ lắm”, ông Lử tâm sự.
Đã có với bà cả 3 đứa con, nhưng ông Lử phải lòng bà Vừa Thị Khua (SN 1964) ở cùng bản. Bà Khua đã có hai đứa con, chồng chết sớm. Từ đó, cứ ba năm hai đứa, trong vòng 15 năm bà Khua sinh cho ông 5 đứa con (2 trai 3 gái).
Lấy hai vợ, có được con trai nhưng gánh nặng cơm áo, gạo tiền đè lên đầu ông Lử. Trước đây, ông là người giàu có nhất bản nhưng nay ông “tụt hạng” do đàn con đông đúc, chưa hết mùa đã chạy ăn từng bữa. “Trước đây nhà mình nuôi nhiều trâu lắm, lúa ngô không lúc nào thiếu. Từ khi cưới vợ hai về đàn con thi nhau ra đời, chúng không có gì ăn khóc cả ngày. Để có cái bỏ miệng mình bán dần mọi thứ nay đã hết. Nhà nghèo, thiếu ăn và 10 người con đẻ và hai đứa con của vợ hai đang tuổi ăn học nhưng phải nghỉ để lên nương”, ông Lử buồn bã.
Ba vợ một giường
Với người Mông ở bản Xa Dung A, tiêu biểu trong chuyện “đa thê” phải kể đến ông Lầu Chứ Di đã lập nên “chiến tích” có 3 vợ và 8 đứa con. Đặc biệt, bao nhiêu năm chung sống nhưng chưa bao giờ ba bà có một cuộc “chiến tranh lạnh” hay tranh giành “gần gũi” với chồng.
Tìm đến nhà ông Di, từ già tới trẻ, ai cũng chỉ đường vanh vách. Và bất cứ ai sau khi nhiệt tình chỉ dẫn đều tủm tỉm hỏi lại: “Cán bộ dưới xuôi lên ạ! Đến khuyên con cháu ông Di và dòng họ Lầu đừng lấy nhiều vợ như ông đúng không?”.
Năm nay, ông Di đã bước sang tuổi 60. Vào năm 18 tuổi, ông Di kéo bà Chá Thị Dua (SN 1956) về làm vợ. Lấy nhau về được 3 năm thì bà Dua sinh cho ông hai đứa con gái và “tịt đẻ”. Không có con trai, họ hàng lên tiếng phải kéo thêm vợ hai về đẻ để kiếm con trai nối dõi. Ông Di là trưởng họ Lầu nên dứt khoát phải có con trai vì thế ông Di tiếp tục đi kéo thêm vợ nữa. Vào năm 1972, sau nhiều ngày tán tỉnh, cô Chá Thị Mỵ (SN 1965) ở cùng bản đã ưng cái bụng. Nhưng sau đó, cái miệng “dẻo” của ông Di khiến bà Sồng Thị Mỵ (SN 1963) dính vào lưới tình. Rồi họ đẻ cho ông 8 người con (3 trai 5 gái).
Tự hào về “chiến tích” có 3 vợ, ông Di tâm sự: “Để có nhiều vợ điều quan trọng là cái miệng. Mình có nhiều lúa, lắm trâu gì đâu, trong lúc có hai vợ nhưng mình nói chuyện hay các cô gái nghe lọt tai, cứ thế theo mình về làm vợ hết”. Tôi buột miệng hỏi: “Việc ông cưới ba vợ chính quyền xã họ có ý kiến gì không?". Ông Di nhanh nhảu đáp: “Biết làm sao được, ngày trước vợ mình có bao giờ ra ngoài đâu”.
Trong số ba bà thì chỉ có bà vợ cả do bố mẹ ông Di cưới có thủ tục đăng ký kết hôn đàng hoàng. Hai bà còn lại ông đều cưới “chui” hoặc cứ đến sinh sống với nhau như vợ chồng. Điều ấy dân bản biết hết và sau này chính quyền biết. Thế nhưng xã không có biện pháp ngăn chặn.
Khi hỏi ông làm sao mà để các bà không cãi nhau, tranh chồng thì ông cười: “Quan trọng là ở mình biết giáo dục chứ. Nếu biết cách thì mấy vợ cũng được hết". Rồi ông vui cười: “Ngày trước còn ở một nhà, đêm nào ba bà cũng nằm chung một giường nhưng chẳng bà nào ghen tị bà nào cả. Ba bà cùng các con ăn một mâm, ngủ cùng chồng và đi làm một nương. Lịch “gần gũi” ba bà cũng được tôi phân công rõ ràng. Theo phương thức xoay vòng, mỗi bà một ngày đêm, tuyệt đối không ai vi phạm”.
Chào ông Di ra về, ông còn đùa rằng: “Tôi xem trên phim thấy người dưới xuôi muốn lấy vợ hai kiếm con trai mà lén lút “cặp bồ” rồi mua nhà to cho bồ ở. Và cảnh người vợ cả đi tìm bồ của chồng đánh đập, có nhiều người còn giết nhau nữa. Ở đây, người Mông chúng tôi không thế đâu, ba vợ mà vẫn sống hạnh phúc, hoà thuận”.
Theo Đắc Thành - VTC New
Du lịch, GO!
Lễ hội nào cống ở Tả Van
Nào cống là lễ hội của các đồng bào dân tộc thiểu số H'Mông, Dao, Giáy. Từ thập kỷ 50 về trước, Tả Van có một ngôi miếu thờ 3 gian. Ngôi miếu dựng ở ngay đầu cầu treo sang làng Tả Van Giáy. Ngôi miếu trở thành địa điểm tổ chức lễ “Nào Cống” của cả vùng thung lũng Mường Hoa.
Hàng năm vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người Mông, người Dao, người Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già, trẻ.
Ngôi miếu thờ được người Mông gọi là “Chế đáng” (Tsêr đăngz). Miếu thờ có 3 gian, gian giữa thờ hai viên quan họ Đào, họ Nguyễn đã có công an dân và xây dựng Mường Hoa. Một gian bên trái thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa (Long Vương), người Giáy gọi là “Sía po”, “Sía ta”, người Mong gọi là “Thủ Ti”, “Lùng Vàng”.
Một gian bên phải thờ các bà nàng vợ hai ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ Vật dân cúng là trâu đen, lợn đen và gà vịt do các làng đóng góp mua. Làng Tả Van Giáy còn có trách nhiệm chuẩn bị vàng hương, bát đĩa dâng cúng.
Lễ “Nào Cống” có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống. Trước đây, người chủ lễ phải mời thầy mo người Tày của Mường Bo. Từ thập kỷ 40 – 50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo của người Giáy ở Tả Van. Thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ, khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa lên đọc quy ước chung của cả Mường...
Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề:
- Vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu nơi khác đến trộm cắp.
- Vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người Mông, người Dao, người Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng...
- Vấn đề chăn dắt gia súc : Quy ước có quy định cụ thể thời gian cấm thả rông gia súc. Hàng năm từ ngày 15 tháng chuột (tháng 10 âm lịch) đến này Thìn tháng giêng (ngày mở hội xuống đồng) người dân mới được thả gia súc. Ngoài khoảng thời gian trên, cấm mọi người thả rông gia súc để tránh bị phá hoại mùa màng.
- Vấn đề ứng xử xã hội: Các quy ước của cả vùng đều đề cập đến quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, giúp gia đình có tang... đồng thời phê phán quan hệ nam nữ không lành mạnh, “Cấm kéo đàn bà, con gái vào trong núi”... Kết thúc phần đọc các quy ước, người chức dịch còn nhấn mạnh “Hôm nay, tôi nói cho mọi người biết như thế, từ đây mọi người trở về nhà phải tuân theo những lý lối này và kể cho cả nhà được biết để tuân theo”.
Khác với lễ “Nhặn sồng”, “Nào sồng”, lễ “Nào Cống” không tổ chức bàn bạc thảo luận quy ước, mọi người đến dự chỉ có trách nhiệm tuân theo quy ước do chức dịch đã phổ biến.
Kết thúc phần phổ biến quy ước, mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, chỉ có các chức dịch (lý trưởng, phó lý, thầy mo) được ngồi ăn. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự, người khác sẽ dành phần thức ăn mang về.
Trích từ Wikipedia
Du lịch, GO!
Read More
Hàng năm vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người Mông, người Dao, người Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già, trẻ.
Ngôi miếu thờ được người Mông gọi là “Chế đáng” (Tsêr đăngz). Miếu thờ có 3 gian, gian giữa thờ hai viên quan họ Đào, họ Nguyễn đã có công an dân và xây dựng Mường Hoa. Một gian bên trái thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa (Long Vương), người Giáy gọi là “Sía po”, “Sía ta”, người Mong gọi là “Thủ Ti”, “Lùng Vàng”.
Một gian bên phải thờ các bà nàng vợ hai ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ Vật dân cúng là trâu đen, lợn đen và gà vịt do các làng đóng góp mua. Làng Tả Van Giáy còn có trách nhiệm chuẩn bị vàng hương, bát đĩa dâng cúng.
Lễ “Nào Cống” có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống. Trước đây, người chủ lễ phải mời thầy mo người Tày của Mường Bo. Từ thập kỷ 40 – 50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo của người Giáy ở Tả Van. Thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ, khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa lên đọc quy ước chung của cả Mường...
Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề:
- Vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu nơi khác đến trộm cắp.
- Vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người Mông, người Dao, người Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng...
- Vấn đề chăn dắt gia súc : Quy ước có quy định cụ thể thời gian cấm thả rông gia súc. Hàng năm từ ngày 15 tháng chuột (tháng 10 âm lịch) đến này Thìn tháng giêng (ngày mở hội xuống đồng) người dân mới được thả gia súc. Ngoài khoảng thời gian trên, cấm mọi người thả rông gia súc để tránh bị phá hoại mùa màng.
- Vấn đề ứng xử xã hội: Các quy ước của cả vùng đều đề cập đến quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, giúp gia đình có tang... đồng thời phê phán quan hệ nam nữ không lành mạnh, “Cấm kéo đàn bà, con gái vào trong núi”... Kết thúc phần đọc các quy ước, người chức dịch còn nhấn mạnh “Hôm nay, tôi nói cho mọi người biết như thế, từ đây mọi người trở về nhà phải tuân theo những lý lối này và kể cho cả nhà được biết để tuân theo”.
Khác với lễ “Nhặn sồng”, “Nào sồng”, lễ “Nào Cống” không tổ chức bàn bạc thảo luận quy ước, mọi người đến dự chỉ có trách nhiệm tuân theo quy ước do chức dịch đã phổ biến.
Kết thúc phần phổ biến quy ước, mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, chỉ có các chức dịch (lý trưởng, phó lý, thầy mo) được ngồi ăn. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự, người khác sẽ dành phần thức ăn mang về.
Trích từ Wikipedia
Du lịch, GO!
Lễ hội cúng dừa của người Khmer.
(TTO) - Hằng năm, bà con ở xã An Hiệp (Châu Thành, Sóc Trăng) tổ chức lễ cúng dừa (hội Thác Côn) kéo dài ba ngày từ ngày 15 đến 17-3 âm lịch tại chùa Ma ha sal Phat Mon của người Khmer.
< Cổng chùa Mahasal Thatmon.
Theo truyền thuyết, từ xa xưa nơi đây nổi lên một gò đất hình dạng như chiếc cồng. Chân người giẫm lên phát ra thứ tiếng âm vang như chiếc cồng, theo thời gian âm thanh nhỏ dần rồi mất hẳn. Bà con cho rằng đây là sự linh thiêng nên lập miếu thờ. Hằng năm cứ đến rằm tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ hội cầu an gọi là Thác Côn, gợi lại tiếng còng chiêng âm vang từ đất, và những chiếc bình bông làm bằng trái dừa được dâng cúng.
< Dừa dâng cúng Phật.
Cũng như các lễ hội cầu an, mong mùa màng bội thu, bà con được bình yên lao động sản xuất, những vật dâng lễ cúng là những thứ hoa trái mang đậm dấu ấn tín ngưỡng. Các thứ hoa như sen tượng trưng cho sự thanh khiết, bình bông làm bằng trái dừa được vạt miệng, loại quả có nước tinh khiết, ngọt lành. Những cây bông bằng tre kết lá trầu xanh sẽ được cắm lên trái dừa. Ngoài ra luôn có miếng trầu trong lễ cúng.
Dừa đủ cở lớn nhỏ, mỗi gia đình tùy theo lời nguyện của mình mà đem theo dừa dâng cúng. Thường mỗi người đem đến một cặp dừa nhưng cũng có gia đình đem đến 7 - 8 cặp, có màu sắc khác nhau. Nhìn kỹ sẽ thấy đa số lễ vật cúng có năm thứ tượng trưng cho năm vị bồ tát, bao nhiêu lòng thành của khách hành hương như gởi gắm trong chiếc bình nhỏ bằng trái dừa.
< Bán dừa làm bình hoa.
Khách dự hội năm nay đông hơn các năm trước, những bãi giữ xe lộ thiên chật kín xe, hàng quán mọc lên kín hai bên lộ. Trước cổng chùa, lễ vật hoa trái được bày bán sầm uất, một cặp dừa cắm hoa sẵn bán giá chỉ 15.000 đồng. Năm nay bà con về dự hội đông hơn mọi năm, từ Campuchia và các tỉnh bạn như Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ… Ước tính một đêm không dưới 10.000 người.
Đêm hội Thác Côn là đêm thức trắng, nam thanh nữ tú ba dân tộc Việt, Khmer, Hoa có dịp kết bạn, trong không khí nô nức như hội trăng rằm. Phía sau chùa là bãi đất rộng gần 5 công đất tổ chức đa dạng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí thật náo nhiệt. Gánh hát dù kê phục vụ xuyên suốt. Quán nước, quán ăn phục vụ đến sáng.
< Dừa cho vào kho.
Sau ba ngày, khi những bình bông bằng dừa được chất cao như núi trong sân chùa Thác Côn, cũng là lúc bà con xã An Hiệp thực hiện nghi lễ cuối cùng, nghi lễ mang đậm phong tục tập quán nông nghiệp, gom những giống ngũ cốc đã đặt trên bệ thờ, lấy ít tro nhang từ các lư hương đặt vào chiếc mâm bạc thường chứa các vật cúng.
Chị em phụ nữ theo sau người mang chiếc mâm ra đồng, dâng cúng đất đai, ruộng vườn, cúng những vị thần bảo hộ, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, no ấm. Sau đó họ rải hạt giống, rắc tro, chân nhang lên cánh đồng, bờ ruộng. Riêng những bình bông bằng trái dừa, một số bà con xin về cho con cháu uống mong bình an mạnh khỏe, học hành thông minh.
Theo Hưng Phú (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Read More
< Cổng chùa Mahasal Thatmon.
Theo truyền thuyết, từ xa xưa nơi đây nổi lên một gò đất hình dạng như chiếc cồng. Chân người giẫm lên phát ra thứ tiếng âm vang như chiếc cồng, theo thời gian âm thanh nhỏ dần rồi mất hẳn. Bà con cho rằng đây là sự linh thiêng nên lập miếu thờ. Hằng năm cứ đến rằm tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ hội cầu an gọi là Thác Côn, gợi lại tiếng còng chiêng âm vang từ đất, và những chiếc bình bông làm bằng trái dừa được dâng cúng.
< Dừa dâng cúng Phật.
Cũng như các lễ hội cầu an, mong mùa màng bội thu, bà con được bình yên lao động sản xuất, những vật dâng lễ cúng là những thứ hoa trái mang đậm dấu ấn tín ngưỡng. Các thứ hoa như sen tượng trưng cho sự thanh khiết, bình bông làm bằng trái dừa được vạt miệng, loại quả có nước tinh khiết, ngọt lành. Những cây bông bằng tre kết lá trầu xanh sẽ được cắm lên trái dừa. Ngoài ra luôn có miếng trầu trong lễ cúng.
Dừa đủ cở lớn nhỏ, mỗi gia đình tùy theo lời nguyện của mình mà đem theo dừa dâng cúng. Thường mỗi người đem đến một cặp dừa nhưng cũng có gia đình đem đến 7 - 8 cặp, có màu sắc khác nhau. Nhìn kỹ sẽ thấy đa số lễ vật cúng có năm thứ tượng trưng cho năm vị bồ tát, bao nhiêu lòng thành của khách hành hương như gởi gắm trong chiếc bình nhỏ bằng trái dừa.
< Bán dừa làm bình hoa.
Khách dự hội năm nay đông hơn các năm trước, những bãi giữ xe lộ thiên chật kín xe, hàng quán mọc lên kín hai bên lộ. Trước cổng chùa, lễ vật hoa trái được bày bán sầm uất, một cặp dừa cắm hoa sẵn bán giá chỉ 15.000 đồng. Năm nay bà con về dự hội đông hơn mọi năm, từ Campuchia và các tỉnh bạn như Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ… Ước tính một đêm không dưới 10.000 người.
Đêm hội Thác Côn là đêm thức trắng, nam thanh nữ tú ba dân tộc Việt, Khmer, Hoa có dịp kết bạn, trong không khí nô nức như hội trăng rằm. Phía sau chùa là bãi đất rộng gần 5 công đất tổ chức đa dạng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí thật náo nhiệt. Gánh hát dù kê phục vụ xuyên suốt. Quán nước, quán ăn phục vụ đến sáng.
< Dừa cho vào kho.
Sau ba ngày, khi những bình bông bằng dừa được chất cao như núi trong sân chùa Thác Côn, cũng là lúc bà con xã An Hiệp thực hiện nghi lễ cuối cùng, nghi lễ mang đậm phong tục tập quán nông nghiệp, gom những giống ngũ cốc đã đặt trên bệ thờ, lấy ít tro nhang từ các lư hương đặt vào chiếc mâm bạc thường chứa các vật cúng.
Chị em phụ nữ theo sau người mang chiếc mâm ra đồng, dâng cúng đất đai, ruộng vườn, cúng những vị thần bảo hộ, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, no ấm. Sau đó họ rải hạt giống, rắc tro, chân nhang lên cánh đồng, bờ ruộng. Riêng những bình bông bằng trái dừa, một số bà con xin về cho con cháu uống mong bình an mạnh khỏe, học hành thông minh.
Theo Hưng Phú (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Đi tìm mùa Ning nơng
(TTO) - Khi lúa rẫy gặt xong về đậu trong chòi, khi tiếng sấm vang lên khai thông bầu trời, nắng bắt đầu vàng trên những đồi nương, lễ ăn cơm mới đã làm rồi mà mùa mới chưa tới, Tây nguyên tưng bừng mở hội, bắt đầu mùa đón năm mới, mùa ăn năm uống tháng.
< Lễ hội đâm trâu được tái hiện trong một lễ hội ở Pleiku, Gia Lai.
Khi nghe âm vang tiếng cồng chiêng vọng xuống từ những ngọn đồi, bay lên từ thung lũng, tiếng hú đập vào vách đá róc rách tiếng nước reo, tiếng cười ngây ngất xoay theo vòng xoang thâu đêm bên mái nhà rông... Tây nguyên đã vào mùa Ning nơng! Ning nơng, theo cách gọi của người Xê Đăng, là tháng không làm nông. Khi mùa trước đã thu hoạch xong mà mùa đốt rẫy mới vẫn chưa tới, họ đi về rừng, nghỉ ngơi, tổ chức lễ hội, vui chơi gọi là tháng Ning nơng. Ning nơng cũng có nghĩa là bất tận, không bao giờ dừng.
Mùa Ning nơng
Trước đây, cứ đến mùa Ning nơng, đồng bào dân tộc tại nhiều vùng ở Tây nguyên bỏ lại buôn làng để đi về rừng, nguyên sơ với vẻn vẹn chiếc khố trên người. Cả làng vào rừng sống hái lượm, săn bắt hoang dã. Quên mình ở làng nào, con trai của buôn nào, uống dòng nước nào, họ hòa vào thiên nhiên, vào rừng, vào cội nguồn, sống như tổ tiên họ đã từng sống.
Theo một số nhà nghiên cứu, đây là nhận thức về vũ trụ, về sự hài hòa của đồng bào dân tộc. Họ sống trong mối quan hệ tam giác: con người, rừng và thần linh. Rũ bỏ tất cả để về sống thời nguyên thủy là một phương pháp nhắc lại cội nguồn. Mùa đó gọi là Ning nơng.
Ning nơng thường diễn ra vào mùa khô, khi những làn gió thổi qua cánh đồi hoa quỳ vàng rực, làn sóng dập dềnh trên những đồi tranh và đám cỏ đuôi chồn chồm lên vẫy chào ngày nắng đẹp. Tây nguyên mùa này đẹp và lãng mạn. Một tiếng hú nơi hoang dã cũng nên thơ, một chùm hoa dại ven đường cũng đủ rủ rê tâm hồn du khách thành thi sĩ.
Men theo con đường dọc biên giới phủ kín cao su ở Gia Lai, con dốc dựng lên đỉnh Ngọc Linh (Kon Tum) hùng vĩ, triền đồi quanh Hàm Rồng - nóc nhà của Pleiku, những cung đường như cổng trời (Mang Yang) vút lên tận mây xanh hay đứng trên những thảo nguyên đầy gió phóng tầm mắt vượt qua mười quả núi mà mê mẩn, mà lâng lâng trong khúc nhạc Đi tìm lời ru mặt trời.
Những cuộc Ning nơng giờ chỉ còn vang vọng trong các câu chuyện kể “khan” quanh bếp lửa bên ngôi nhà rông cao vút. Mùa Ning nơng giờ là lễ hội, là ăn năm uống tháng. Một lễ hội không có nhà tổ chức hay chen lấn như ở miền xuôi, mà mỗi người, mỗi dân tộc là một cuộc trình diễn bản sắc độc đáo nơi bản làng, nơi núi rừng mênh mang. Lễ đâm trâu, mừng nhà rông mới, mừng lúa mới, cưới hỏi, dệt váy, đan gùi, làm rượu cần, chế tác các nhạc cụ...
Mùa ăn năm uống tháng
Tất cả niềm vui dồn tụ làm mùa Ning nơng bập bùng, miên man. Họ say sưa trong những nhịp xoang, chếnh choáng hơi men rượu cần mà quên ngày quên tháng, đến khi những hạt mưa tổ tiên (đak măt hơtou) nhỏ xuống nhắc nhở phải lên nương, cuộc vui mới tạm dừng.
< Lấy rượu cây mùa Ning nơng.
Ngay cả lễ bỏ mả (pơthi, người Gia Rai), sự tiễn đưa cuối cùng của người sống đối với người chết về với thế giới của những linh hồn thì bên cạnh rất nhiều hình thù lạ lẫm của tượng nhà mồ, họ vẫn say sưa gọi hát bạn tình, bởi trong vòng xoay đó, sinh sôi nảy nở bên cái chết là sự tồn tại, sức sống muôn đời với rừng núi và vũ trụ.
Tây nguyên mùa này không chỉ đẹp ở thị giác với những thảm màu đa sắc trải lên những thảo nguyên, Ning nơng là lễ hội của âm thanh trong các lễ hội thần linh, của sự hòa âm tiếng cồng chiêng, t’rum, trống hơgơr prong, đàn goong, bro, k’lông pút, t’rưng... Cồng chiêng âm vang trên những bản làng, ngân xa ra khỏi dãy nhà rông để đến với tận cha trời, mẹ đất trong mùa lễ hội.
Âm sắc riêng của từng bộ cồng chiêng trong mỗi lễ hội là thứ ngôn ngữ giao hòa giữa con người với con người, với thiên nhiên bất diệt. Khi các loại nhạc cụ được cùng hòa âm, đêm Tây nguyên mới thật sự là một thế giới riêng của Ning nơng. Lễ hội ở Tây nguyên thường diễn ra quanh đống lửa, quanh mái nhà rông, họ bước theo vòng xoang, một nhịp điệu không giới hạn số lượng với tiếng cồng chiêng ùng oang không cần đến nhạc trưởng.
Du khách phương xa đến cũng không phải là người đứng ngoài để xem, để thưởng thức mà cùng hòa mình theo nhịp xoang mềm mại giữa đại ngàn. Hàng chục, hàng trăm, hàng vạn người... vòng xoang cứ thế rộng ra mênh mang như đất mẹ, rền vang “Tiếng hú bay xa chín suối mười đồi, cái cồng con chiêng đêm nay cũng thức. Đêm trong veo, trong veo” (Đêm xoang Tây nguyên).
Ning nơng thu hút là vậy, xoay theo vòng xoang đến tàn đống lửa này thì đốt lên đống lửa khác. Ai xoang cứ xoang, ai chiêng cứ chiêng, ai say cứ say cho hồn mênh mang...
Các lễ hội trong mùa Ning nơng ở Tây nguyên: lễ pơthi (lễ bỏ mả) của người Gia Rai, người Ba Na ở các huyện Ia Grai, Chư Pah, Kbang, Kông Chro (Gia Lai) với điệu xoang prim (múa hề), xoang pram (múa rối) bên những ché rượu cần thơm nồng; lễ cúng bến nước của đồng bào Ê Đê ở Đắk Lắk, sau một mùa thu hoạch để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Rộn rã hơn là hội đua voi Tây nguyên diễn ra ở Buôn Ðôn, bên những cánh rừng khộp ven sông Sêrêpốk (Ðắk Lắk) vào ngày 13-3, một lễ hội phản ánh tinh thần thượng võ của người M’Nông vốn giàu đức tính dũng cảm và kinh nghiệm trong những cuộc săn bắt voi rừng. Ngoài ra còn có những lễ hội khác như lễ đâm trâu, lễ mừng lúa mới, lễ cầu mưa của các đồng bào Gia Rai, Ba Na, Xê Đăng, Ê Đê...
Theo Trường Đăng, Tiến Thành (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Read More
< Lễ hội đâm trâu được tái hiện trong một lễ hội ở Pleiku, Gia Lai.
Khi nghe âm vang tiếng cồng chiêng vọng xuống từ những ngọn đồi, bay lên từ thung lũng, tiếng hú đập vào vách đá róc rách tiếng nước reo, tiếng cười ngây ngất xoay theo vòng xoang thâu đêm bên mái nhà rông... Tây nguyên đã vào mùa Ning nơng! Ning nơng, theo cách gọi của người Xê Đăng, là tháng không làm nông. Khi mùa trước đã thu hoạch xong mà mùa đốt rẫy mới vẫn chưa tới, họ đi về rừng, nghỉ ngơi, tổ chức lễ hội, vui chơi gọi là tháng Ning nơng. Ning nơng cũng có nghĩa là bất tận, không bao giờ dừng.
Mùa Ning nơng
Trước đây, cứ đến mùa Ning nơng, đồng bào dân tộc tại nhiều vùng ở Tây nguyên bỏ lại buôn làng để đi về rừng, nguyên sơ với vẻn vẹn chiếc khố trên người. Cả làng vào rừng sống hái lượm, săn bắt hoang dã. Quên mình ở làng nào, con trai của buôn nào, uống dòng nước nào, họ hòa vào thiên nhiên, vào rừng, vào cội nguồn, sống như tổ tiên họ đã từng sống.
Theo một số nhà nghiên cứu, đây là nhận thức về vũ trụ, về sự hài hòa của đồng bào dân tộc. Họ sống trong mối quan hệ tam giác: con người, rừng và thần linh. Rũ bỏ tất cả để về sống thời nguyên thủy là một phương pháp nhắc lại cội nguồn. Mùa đó gọi là Ning nơng.
Ning nơng thường diễn ra vào mùa khô, khi những làn gió thổi qua cánh đồi hoa quỳ vàng rực, làn sóng dập dềnh trên những đồi tranh và đám cỏ đuôi chồn chồm lên vẫy chào ngày nắng đẹp. Tây nguyên mùa này đẹp và lãng mạn. Một tiếng hú nơi hoang dã cũng nên thơ, một chùm hoa dại ven đường cũng đủ rủ rê tâm hồn du khách thành thi sĩ.Men theo con đường dọc biên giới phủ kín cao su ở Gia Lai, con dốc dựng lên đỉnh Ngọc Linh (Kon Tum) hùng vĩ, triền đồi quanh Hàm Rồng - nóc nhà của Pleiku, những cung đường như cổng trời (Mang Yang) vút lên tận mây xanh hay đứng trên những thảo nguyên đầy gió phóng tầm mắt vượt qua mười quả núi mà mê mẩn, mà lâng lâng trong khúc nhạc Đi tìm lời ru mặt trời.
Những cuộc Ning nơng giờ chỉ còn vang vọng trong các câu chuyện kể “khan” quanh bếp lửa bên ngôi nhà rông cao vút. Mùa Ning nơng giờ là lễ hội, là ăn năm uống tháng. Một lễ hội không có nhà tổ chức hay chen lấn như ở miền xuôi, mà mỗi người, mỗi dân tộc là một cuộc trình diễn bản sắc độc đáo nơi bản làng, nơi núi rừng mênh mang. Lễ đâm trâu, mừng nhà rông mới, mừng lúa mới, cưới hỏi, dệt váy, đan gùi, làm rượu cần, chế tác các nhạc cụ...
Mùa ăn năm uống tháng
Tất cả niềm vui dồn tụ làm mùa Ning nơng bập bùng, miên man. Họ say sưa trong những nhịp xoang, chếnh choáng hơi men rượu cần mà quên ngày quên tháng, đến khi những hạt mưa tổ tiên (đak măt hơtou) nhỏ xuống nhắc nhở phải lên nương, cuộc vui mới tạm dừng.< Lấy rượu cây mùa Ning nơng.
Ngay cả lễ bỏ mả (pơthi, người Gia Rai), sự tiễn đưa cuối cùng của người sống đối với người chết về với thế giới của những linh hồn thì bên cạnh rất nhiều hình thù lạ lẫm của tượng nhà mồ, họ vẫn say sưa gọi hát bạn tình, bởi trong vòng xoay đó, sinh sôi nảy nở bên cái chết là sự tồn tại, sức sống muôn đời với rừng núi và vũ trụ.
Tây nguyên mùa này không chỉ đẹp ở thị giác với những thảm màu đa sắc trải lên những thảo nguyên, Ning nơng là lễ hội của âm thanh trong các lễ hội thần linh, của sự hòa âm tiếng cồng chiêng, t’rum, trống hơgơr prong, đàn goong, bro, k’lông pút, t’rưng... Cồng chiêng âm vang trên những bản làng, ngân xa ra khỏi dãy nhà rông để đến với tận cha trời, mẹ đất trong mùa lễ hội.
Âm sắc riêng của từng bộ cồng chiêng trong mỗi lễ hội là thứ ngôn ngữ giao hòa giữa con người với con người, với thiên nhiên bất diệt. Khi các loại nhạc cụ được cùng hòa âm, đêm Tây nguyên mới thật sự là một thế giới riêng của Ning nơng. Lễ hội ở Tây nguyên thường diễn ra quanh đống lửa, quanh mái nhà rông, họ bước theo vòng xoang, một nhịp điệu không giới hạn số lượng với tiếng cồng chiêng ùng oang không cần đến nhạc trưởng.
Du khách phương xa đến cũng không phải là người đứng ngoài để xem, để thưởng thức mà cùng hòa mình theo nhịp xoang mềm mại giữa đại ngàn. Hàng chục, hàng trăm, hàng vạn người... vòng xoang cứ thế rộng ra mênh mang như đất mẹ, rền vang “Tiếng hú bay xa chín suối mười đồi, cái cồng con chiêng đêm nay cũng thức. Đêm trong veo, trong veo” (Đêm xoang Tây nguyên).
Ning nơng thu hút là vậy, xoay theo vòng xoang đến tàn đống lửa này thì đốt lên đống lửa khác. Ai xoang cứ xoang, ai chiêng cứ chiêng, ai say cứ say cho hồn mênh mang...
Các lễ hội trong mùa Ning nơng ở Tây nguyên: lễ pơthi (lễ bỏ mả) của người Gia Rai, người Ba Na ở các huyện Ia Grai, Chư Pah, Kbang, Kông Chro (Gia Lai) với điệu xoang prim (múa hề), xoang pram (múa rối) bên những ché rượu cần thơm nồng; lễ cúng bến nước của đồng bào Ê Đê ở Đắk Lắk, sau một mùa thu hoạch để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Rộn rã hơn là hội đua voi Tây nguyên diễn ra ở Buôn Ðôn, bên những cánh rừng khộp ven sông Sêrêpốk (Ðắk Lắk) vào ngày 13-3, một lễ hội phản ánh tinh thần thượng võ của người M’Nông vốn giàu đức tính dũng cảm và kinh nghiệm trong những cuộc săn bắt voi rừng. Ngoài ra còn có những lễ hội khác như lễ đâm trâu, lễ mừng lúa mới, lễ cầu mưa của các đồng bào Gia Rai, Ba Na, Xê Đăng, Ê Đê...
Theo Trường Đăng, Tiến Thành (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Lễ lẩu then của người Tày Lạng Sơn
(DVO) - Với người Tày ở Lạng Sơn, bà then (những người làm then cúng) có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống.
Bà then có mặt trong mọi nghi lễ của người Tày, từ lễ cúng mụ sinh, lễ mừng thọ, dựng nhà, lấy vợ, gả chồng và cả khi chết…Vì vậy, bà then luôn được người Tày tôn trọng.
Người làm then được chia ra nhiều bậc khác nhau, bà then có uy tín phải là người có đủ 15 cầu then hay đã trải qua 15 bậc then. Các bậc then được chia theo số lẻ 5,7,9,13,15, mỗi lần làm lễ nâng bậc then được gọi là lễ lẩu then, hay còn gọi là “hắt lẩu then.” Ngoài ra, sau khi các bà then đã đủ 15 bậc then họ vẫn làm lễ để ôn lại 15 bậc then, đó cũng được gọi là lễ đổ rượu then. Những người làm then cho rằng sau mỗi lần làm lễ đổ rượu then, bà then sẽ có uy tín hơn trong công việc cúng then, cứu giúp được nhiều người hơn.
Thông thường bà then chưa đủ 15 bậc then thì ba năm sẽ tổ chức lễ đổ rượu then để nâng bậc một lần. Còn với bà then đã đủ 15 bậc, mỗi năm có thể ba lần làm lễ đổ rượu then vào dịp Rằm các tháng 2, 7 và 11.
Thành phần tham gia buổi lễ gồm bà then được làm lễ, người thầy của bà then có nhiệm vụ hướng dẫn cho học trò trong buổi lễ. Các bà then khác tới để phụ giúp mọi việc. Hai người phụ nữ chưa lập gia đình hoặc là góa phụ sẽ phụ giúp việc đốt nhang cho buổi lễ.
Thông thường, buổi lễ sẽ diễn ra hai ngày một đêm, trước đó bà then được làm lễ phải giữ mình thanh sạch trong nhiều ngày. Các bà then đều phải ăn chay trong suốt quá trình diễn ra buổi lễ. Phần chuẩn bị cho buổi lễ khá đơn giản, gia chủ chỉ cần chuẩn bị ba mâm ngọt để cúng gồm gạo, hoa quả, năm chén rượu và hai bát hương. Một mâm chính giữa dành riêng cho bà then được làm lễ, hai mâm bên cạnh của hai người thầy bà then.
Phía bên trái, bà then để hai thúng gạo, bên trên có hai chiếc thang được làm bằng tàu chuối, một chiếc thang có che vải tượng trưng cho con đường để đón các Tướng về, thang nhỏ không che vải tượng trưng cho quá trình "nối số," tức là cúng cho những người yếu được mạnh khỏe, sống lâu hơn.
Mở đầu buổi lễ các bà then sẽ dùng lời then và đàn Tính để báo cáo thổ công, gia tiên của gia đình nội dung buổi lễ. Tiếp theo là một "chặng đường" của đội quân nhà then đi đến Tướng lĩnh, pháp sư để báo cho những đấng thần linh biết mục đích của buổi lễ. Chặng đường đội quân nhà then đi phải trải qua mười một "cửa ải," từ ải Thổ Công, Táo Quân đến Vua Ông, Pháp sư và cuối cùng là tới vua Hoàng Đức Tướng.
Dẫn đầu đội quân nhà then là người thầy của bà then, người này sẽ dùng những lời then cổ để dẫn đội then vượt qua từng "cửa ải". Dụng cụ của các bà then là cây đàn tính, chiếc quạt, thẻ âm dương và sóc nhạc tượng trưng cho một đàn ngựa đi hùng dũng.
Tới mỗi "cửa ải," sau khi xin được đi qua, các bà then sẽ phất chiếc quạt và tiếp tục đi đến các chặng tiếp theo. Qua mỗi "cửa ải" các lời then đều được thay đổi cho phù hợp với hành động của bà then, chứa đựng những giá trị nhân văn, giáo dục truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Tày. "Cửa ải" cuối cùng chính là "cửa ải" đặc sắc nhất, thu hút sự chú ý của đông đảo mọi người. Ở "cửa ải" này gia chủ phải chuẩn bị đầy đủ lễ sống gồm gà và lợn để dâng lên vua Hoàng Đức Tướng.
Trong quá trình lễ sống, các bà then vẫn tiếp tục hát then và làm các nghi lễ như giải hạn, nối số cho những người sức khỏe yếu. Sau phần lễ sống, gia chủ chuẩn bị lễ chín gồm 5 con gà và 5 thủ lợn đã được luộc và nướng để dâng lên vua Hoàng Đức Tướng.
Lúc này, bà then sẽ hóa thân mang dáng dấp một chú hổ để nhận lễ. Các phần lộc sẽ được phân phát cho mọi người, ai nhận được càng nhiều lộc thì càng may mắn. Đây cũng là lúc kết thúc nghi lễ đổ lẩu then của người Tày. Điều đặc biệt trong nghi lễ lẩu then của người Tày là gia chủ không mời khách nhưng khách tới rất đông, người tới để trả lễ, người tới để chứng kiến nghi lễ cổ truyền.
Những người tới đều mang theo một túi gạo, túi bánh và một giá xôi màu, vừa để góp lễ vừa để nhờ bà then giải hạn cho gia đình sang một năm mới an lành. Những túi gạo được gia chủ đặt trên giá gọi là bạch hương.
Giữa buổi lễ, các bà then tiến hành nghi lễ giải hạn. Bà then cầm cây mía có buộc vải đỏ ở ngọn tượng trưng cho cây tẩy uế xin bốn phương. Sau đó, đứng dưới bạch hương, cây mía của bà then dừng lại ở túi gạo nào thì túi gạo ấy có hạn và được đánh dấu để được giải hạn. Lễ giải hạn sẽ làm lại vào sáng hôm sau để chắc chắn không có túi gạo nào và gia đình nào không được giải hạn.
Nghi lễ lẩu then của người Tày vừa đặc sắc về hình thức lại vừa chứa đựng nhiều giá trị cổ truyền. Nó duy trì một phong tục mang đậm bản sắc văn hóa và là dịp gắn kết tình làng nghĩa xóm của đồng bào dân tộc Tày.
Theo Hoàng Văn Hương (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Read More
Bà then có mặt trong mọi nghi lễ của người Tày, từ lễ cúng mụ sinh, lễ mừng thọ, dựng nhà, lấy vợ, gả chồng và cả khi chết…Vì vậy, bà then luôn được người Tày tôn trọng.
Người làm then được chia ra nhiều bậc khác nhau, bà then có uy tín phải là người có đủ 15 cầu then hay đã trải qua 15 bậc then. Các bậc then được chia theo số lẻ 5,7,9,13,15, mỗi lần làm lễ nâng bậc then được gọi là lễ lẩu then, hay còn gọi là “hắt lẩu then.” Ngoài ra, sau khi các bà then đã đủ 15 bậc then họ vẫn làm lễ để ôn lại 15 bậc then, đó cũng được gọi là lễ đổ rượu then. Những người làm then cho rằng sau mỗi lần làm lễ đổ rượu then, bà then sẽ có uy tín hơn trong công việc cúng then, cứu giúp được nhiều người hơn.
Thông thường bà then chưa đủ 15 bậc then thì ba năm sẽ tổ chức lễ đổ rượu then để nâng bậc một lần. Còn với bà then đã đủ 15 bậc, mỗi năm có thể ba lần làm lễ đổ rượu then vào dịp Rằm các tháng 2, 7 và 11.
Thành phần tham gia buổi lễ gồm bà then được làm lễ, người thầy của bà then có nhiệm vụ hướng dẫn cho học trò trong buổi lễ. Các bà then khác tới để phụ giúp mọi việc. Hai người phụ nữ chưa lập gia đình hoặc là góa phụ sẽ phụ giúp việc đốt nhang cho buổi lễ.Thông thường, buổi lễ sẽ diễn ra hai ngày một đêm, trước đó bà then được làm lễ phải giữ mình thanh sạch trong nhiều ngày. Các bà then đều phải ăn chay trong suốt quá trình diễn ra buổi lễ. Phần chuẩn bị cho buổi lễ khá đơn giản, gia chủ chỉ cần chuẩn bị ba mâm ngọt để cúng gồm gạo, hoa quả, năm chén rượu và hai bát hương. Một mâm chính giữa dành riêng cho bà then được làm lễ, hai mâm bên cạnh của hai người thầy bà then.
Phía bên trái, bà then để hai thúng gạo, bên trên có hai chiếc thang được làm bằng tàu chuối, một chiếc thang có che vải tượng trưng cho con đường để đón các Tướng về, thang nhỏ không che vải tượng trưng cho quá trình "nối số," tức là cúng cho những người yếu được mạnh khỏe, sống lâu hơn.
Mở đầu buổi lễ các bà then sẽ dùng lời then và đàn Tính để báo cáo thổ công, gia tiên của gia đình nội dung buổi lễ. Tiếp theo là một "chặng đường" của đội quân nhà then đi đến Tướng lĩnh, pháp sư để báo cho những đấng thần linh biết mục đích của buổi lễ. Chặng đường đội quân nhà then đi phải trải qua mười một "cửa ải," từ ải Thổ Công, Táo Quân đến Vua Ông, Pháp sư và cuối cùng là tới vua Hoàng Đức Tướng.Dẫn đầu đội quân nhà then là người thầy của bà then, người này sẽ dùng những lời then cổ để dẫn đội then vượt qua từng "cửa ải". Dụng cụ của các bà then là cây đàn tính, chiếc quạt, thẻ âm dương và sóc nhạc tượng trưng cho một đàn ngựa đi hùng dũng.
Tới mỗi "cửa ải," sau khi xin được đi qua, các bà then sẽ phất chiếc quạt và tiếp tục đi đến các chặng tiếp theo. Qua mỗi "cửa ải" các lời then đều được thay đổi cho phù hợp với hành động của bà then, chứa đựng những giá trị nhân văn, giáo dục truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Tày. "Cửa ải" cuối cùng chính là "cửa ải" đặc sắc nhất, thu hút sự chú ý của đông đảo mọi người. Ở "cửa ải" này gia chủ phải chuẩn bị đầy đủ lễ sống gồm gà và lợn để dâng lên vua Hoàng Đức Tướng.
Trong quá trình lễ sống, các bà then vẫn tiếp tục hát then và làm các nghi lễ như giải hạn, nối số cho những người sức khỏe yếu. Sau phần lễ sống, gia chủ chuẩn bị lễ chín gồm 5 con gà và 5 thủ lợn đã được luộc và nướng để dâng lên vua Hoàng Đức Tướng.
Lúc này, bà then sẽ hóa thân mang dáng dấp một chú hổ để nhận lễ. Các phần lộc sẽ được phân phát cho mọi người, ai nhận được càng nhiều lộc thì càng may mắn. Đây cũng là lúc kết thúc nghi lễ đổ lẩu then của người Tày. Điều đặc biệt trong nghi lễ lẩu then của người Tày là gia chủ không mời khách nhưng khách tới rất đông, người tới để trả lễ, người tới để chứng kiến nghi lễ cổ truyền.
Những người tới đều mang theo một túi gạo, túi bánh và một giá xôi màu, vừa để góp lễ vừa để nhờ bà then giải hạn cho gia đình sang một năm mới an lành. Những túi gạo được gia chủ đặt trên giá gọi là bạch hương.
Giữa buổi lễ, các bà then tiến hành nghi lễ giải hạn. Bà then cầm cây mía có buộc vải đỏ ở ngọn tượng trưng cho cây tẩy uế xin bốn phương. Sau đó, đứng dưới bạch hương, cây mía của bà then dừng lại ở túi gạo nào thì túi gạo ấy có hạn và được đánh dấu để được giải hạn. Lễ giải hạn sẽ làm lại vào sáng hôm sau để chắc chắn không có túi gạo nào và gia đình nào không được giải hạn.
Nghi lễ lẩu then của người Tày vừa đặc sắc về hình thức lại vừa chứa đựng nhiều giá trị cổ truyền. Nó duy trì một phong tục mang đậm bản sắc văn hóa và là dịp gắn kết tình làng nghĩa xóm của đồng bào dân tộc Tày.
Theo Hoàng Văn Hương (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng
(
Atom
)


































.jpg)

